Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung tóm tắt bài viết “Dân ca Sán Chí trong bối cảnh hiện nay (nghiên cứu trường hợp xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang)” của TS. Lê Cẩm Ly (Viện Nghiên cứu Văn hóa).

Dân ca
Sán Chí tại xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn (trước đây thuộc tỉnh Bắc Giang, nay
thuộc Bắc Ninh) mang tên gọi chung là Chắng cộ, xuất phát từ hình thức
hát nổi bật nhất của cộng đồng. Đây là thể loại dân ca đối đáp nam nữ, thể hiện
tâm tư tình cảm, ước mơ nguyện vọng, ca ngợi thiên nhiên và cuộc sống. Theo tiếng
Sán Chí, “Cnăng” nghĩa là xướng, “cọ” là bài ca, nên Chắng cộ chính là xướng ca
các bài dân ca. Các bậc cao niên không rõ nguồn gốc ra đời, chỉ biết rằng vốn
này được truyền dạy qua nhiều thế hệ.
Trong đời
sống sinh hoạt và phong tục truyền thống, dân ca Sán Chí tồn tại bốn hình thức
chính: Chắng cộ, Chục cộ, Chầu cộ, Zóng hồ cộ.
Riêng về Chắng cộ, hình thức này diễn ra ban đêm vào trung tuần tháng 2
âm lịch, đúng dịp lễ hội 17 tháng 2. Đối tượng tham gia là nam nữ Sán Chí địa
phương và một số xã lân cận có quan hệ giao lưu từ trước. Hình thức này có nội
dung phong phú nhất, số lượng bài nhiều nhất nên được dùng làm tên chung. Trước
đây, cuộc hát kéo dài bảy đêm liên tục, mỗi đêm hát hơn một nghìn bài theo quy
định nghiêm ngặt: không được lặp lại bài đã hát đêm trước. Khách phải đứng
ngoài cổng hát vọng vào xin phép, chủ nhà đáp lại mới mời vào. Sau thủ tục chào
hỏi, hai bên chia nhóm nam nữ đối diện, hát theo âm điệu kéo dài nhẹ nhàng, gần
giống hát ru. Diễn trình gồm hát chào gia đình, mừng chủ nhà, đối đáp về thân
thế gia cảnh, hát tình lứa đôi mượn cảnh thiên nhiên, rồi tạm biệt. Các bài hát
mẫu ghi bằng chữ Hán theo thể thất ngôn tứ tuyệt, đòi hỏi độ chính xác cao về
chữ và vần. Về đặc điểm diễn xướng, dân ca Sán Chí vốn không có nhạc đệm, chủ yếu
đối đáp nam nữ theo cặp hoặc nhóm, luôn quay mặt vào nhau. Trong Chắng cộ,
người hát mặc trang phục truyền thống màu chàm thẫm, kín đáo. Nội dung phản ánh
cảnh đẹp quê hương, lao động, quan hệ gia đình xã hội và tình yêu lứa đôi.
Năm 2012,
dân ca Sán Chí được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Sự
công nhận này cùng các tác động khách quan đã thúc đẩy biến đổi rõ rệt. Nội
dung lời ca trở nên phong phú hơn, phản ánh sự kiện đương đại: chào mừng sinh
nhật Bác Hồ, kỷ niệm thành lập câu lạc bộ, kế hoạch hóa gia đình, bình đẳng giới,
chống dịch Covid. Nhiều nghệ nhân vừa sáng tác lời mới bằng tiếng Sán Chí vừa dịch
sang tiếng Việt để mọi người cùng hiểu. Mối quan hệ giao lưu cũng mở rộng. Các
phiên chợ xuân huyện Lục Ngạn trở thành không gian đa tộc, nơi nghệ nhân Sán
Chí vừa hát với đồng tộc vừa thưởng thức dân ca các dân tộc bạn.
Trong
giai đoạn hậu vinh danh, Nhà nước tiếp tục tham gia tích cực vào quá trình bảo
tồn và phát huy di sản thông qua nhiều hoạt động cụ thể. Các cơ quan chức năng
tổ chức quay phim tư liệu về lớp học và đám cưới cổ truyền; mời nghệ nhân và cộng
đồng tham gia trình diễn tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam; tổ chức
ngày hội văn hóa, thể thao cấp huyện và liên hoan dân ca, dân vũ cấp tỉnh. Bên
cạnh đó, các lớp truyền dạy được mở gắn với các dự án thuộc Chương trình mục
tiêu quốc gia và đề án bảo tồn di sản của tỉnh. Nghệ nhân cũng được khen thưởng
hằng năm, xét tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú và đề cử xét tặng danh hiệu Nghệ
nhân nhân dân.
Về phía cộng
đồng, các nghệ nhân tâm huyết tiếp tục duy trì việc thực hành và truyền dạy di
sản. Hình thức phổ biến nhất là truyền dạy trong phạm vi gia đình, với đối tượng
chủ yếu là học sinh tiểu học và trung học cơ sở, phần lớn là con cháu của các
thành viên câu lạc bộ. Các lớp học vào dịp hè hoặc trước các kỳ hội thi thường
nhận được sự hỗ trợ kinh phí từ Nhà nước và do Ban chủ nhiệm câu lạc bộ tổ chức,
điều hành. Nội dung truyền dạy bao gồm học từ vựng tiếng Sán Chí và học hát các
bài có lời mới, với chủ đề ca ngợi Đảng, Bác Hồ và bản sắc văn hóa dân tộc.
Song song với hoạt động truyền dạy, các nghệ nhân còn tham gia biểu diễn tại
các liên hoan và ngày hội, vừa để thực hành di sản, vừa để giao lưu, tranh tài
và nhận các giải thưởng.
Nhìn
chung, dân ca Sán Chí là di sản mang đặc trưng riêng của vùng đất và cộng đồng.
Việc bảo tồn được đẩy mạnh sau khi được ghi danh, nhưng xu hướng hiện nay
nghiêng về sân khấu hóa. Hoạt động tại các tổ câu lạc bộ chủ yếu phục vụ hội
thi, hội diễn. Môi trường diễn xướng tập trung vào các sự kiện lớn, nghệ nhân
sáng tác và trình diễn bằng hai thứ tiếng. Để bảo tồn di sản này, cần tạo sự gắn
kết và đồng thuận, để dân ca trở thành yếu tố không thể thiếu trong sinh hoạt cộng
đồng, từ đó nuôi dưỡng và phát huy hiệu quả nhất./.
Bài
viết đầy đủ có tại: Tạp chí Nghiên cứu Âm nhạc, Số 77, tháng 1-4/2026