Tiếp biến văn hóa trong lễ tiết Đoan Ngọ tại Việt Nam và Hàn Quốc
Tết Đoan Ngọ, diễn ra vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch hằng năm, là một ngày lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong văn hóa của người Việt Nam. Còn được gọi vui là "Tết giết sâu bọ", ngày này đánh dấu thời điểm chuyển mùa, dịch bệnh dễ xuất hiện gây hại cho sức khỏe của con người. Để cầu mong mùa tươi tốt và sức khỏe bình an, người Việt thường chuẩn bị mâm cỗ cúng tổ tiên với các món ăn đặc trưng như rượu nếp, bánh tro (bánh gio), mận, vải,... Các nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc lại lưu truyền những truyền thuyết khác nhau về nguồn gốc hình thành ngày Tết Đoan Ngọ và có cách thức tổ chức, ăn mừng lễ đa dạng. Để hiểu thêm về ý nghĩa ẩn sau ngày mùng 5 tháng 5, trân trọng giới thiệu cùng bạn một góc nhìn đa văn hóa về ngày Tết Đoan Ngọ với bài viết “Nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng và dị biệt về mặt phong tục và nghi lễ lịch tiết giữa người Việt và người Hàn Quốc” của tác giả Gu Bon Seog.

Bài
viết “Nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng và dị biệt về mặt phong tục và nghi lễ
lịch tiết giữa người Việt và người Hàn Quốc” của tác giả Gu Bon Seog trên Tạp chí Văn hóa dân gian (tên gọi trước đây của Tạp
chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam) Số 2 (74) – 2001.
Trong tiến trình lịch sử,
Việt Nam và Hàn Quốc đều là những quốc gia nằm trong quỹ đạo văn hóa Đông Á, từng
chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa từ thời cổ trung đại. Tuy nhiên, quá trình
tiếp nhận này không mang tính thụ động, mà mỗi dân tộc, dựa trên ý thức độc lập
và bản sắc riêng, đã thực hiện quá trình "bản địa hóa" các yếu tố ngoại
lai để phù hợp với thực tế đời sống. Một trong những minh chứng rõ nét nhất cho cơ chế này chính là hệ thống phong tục nghi lễ lịch tiết hàng năm, trong đó một trường hợp điển hình chính là Tết Đoan Ngọ. Mặc dù cả hai quốc gia đều công nhận
lịch pháp âm dương và các tiết khí, nhưng cách thức ứng xử và vị thế của ngày lễ
này trong đời sống xã hội lại có sự phân hóa rõ rệt, phản ánh những đặc thù về
địa lý, nông nghiệp và tâm lý dân tộc.
Điểm khác biệt đầu tiên và
dễ nhận thấy nhất là tầm quan trọng của Tết Đoan Ngọ trong hệ thống lễ tiết quốc
gia. Tại Hàn Quốc, Đoan Ngọ được xem là một trong những đại lễ quan trọng nhất.
Theo các thư tịch cổ như Cao Ly sử, Đoan Ngọ nằm trong nhóm 9 tết lớn,
và đến thời Triều Tiên dần là một trong 4 tết lớn nhất năm (cùng với Nguyên
Đán, Hàn Thực và Trung Thu). Thậm chí đến cuối thế kỷ XX, tầm quan trọng của ngày Tết này vẫn không hề thua kém Tết Nguyên đán, và tại Bắc Triều Tiên hiện nay, đây vẫn là ngày nghỉ lễ của công chức. Ngược lại, tại Việt Nam, đặc biệt
là vùng đồng bằng Bắc Bộ, Tết Đoan Ngọ chỉ được xếp vào hàng "lễ lạt nhỏ".
Trong khi ở Hàn Quốc, Đoan Ngọ là dịp của các trò chơi cộng đồng quy mô lớn như
đấu vật, đánh đu, thì tại Việt Nam, chủ yếu diễn ra trong phạm vi gia đình với
các nghi thức như "giết sâu bọ" (ăn rượu nếp, đào, mận, bánh tro (bánh gio), bánh
đa,…), hái lá mùng năm, nhuộm đầu ngón tay và dâng lễ cúng tổ tiên.
Sự phân hóa về vị thế này
có nguồn gốc sâu xa từ sự tương thích (hoặc thiếu tương thích) giữa lịch pháp
nhập ngoại và điều kiện sinh thái nông nghiệp bản địa. Hệ thống 24 tiết khí vốn
được hình thành dựa trên khí hậu lưu vực sông Hoàng Hà (Trung Quốc), nơi có chu
kỳ canh tác một năm một vụ. Tại Hàn Quốc, điều kiện khí hậu lạnh, cấu trúc nông
nghiệp truyền thống tương đồng với phương Bắc (gieo cấy vào tháng 4-5 âm lịch
và thu hoạch vào tháng 8-9). Do đó, Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5) rơi vào thời
điểm sau khi gieo cấy xong, là lúc người nông dân có thời gian "nông
nhàn" để nghỉ ngơi và tổ chức lễ hội cầu mùa. Trong khi đó, vùng đồng bằng
Bắc Bộ Việt Nam canh tác nông nghiệp lúa nước theo chu kỳ một năm hai vụ (vụ
chiêm và vụ mùa). Thời điểm tháng 5 âm lịch thường trùng với giai đoạn thu hoạch
vụ chiêm và chuẩn bị gieo cấy vụ mùa, là lúc bận rộn nhất đối với người nông dân. Việc
dồn sức cho sản xuất khiến người Việt không có điều kiện tổ chức các lễ hội quy
mô lớn vào thời gian này, từ đó khiến Tết Đoan Ngọ dần mất đi tính chất hội hè
cộng đồng và thu hẹp lại thành một nghi lễ gia đình.


So sánh thời vụ ở Hàn
Quốc và thời vụ ở Đồng bằng Bắc Bộ (theo Âm lịch)
Nguồn: Gu
Bon Seog
Vì hệ thống lịch tiết 24
khí tiết phương Bắc không tương đồng với khí hậu phương Nam, người Việt đã sáng
tạo ra các cơ chế bổ sung để đáp ứng nhu cầu tâm linh và nhịp điệu lao động, có
thể gọi là chế độ "xuân thu nhị kỳ", tổ chức các lễ hội làng vào các
thời điểm nông nhàn giữa hai vụ lúa để thực hiện các nghi lễ nông nghiệp và vui
chơi giải trí. Chính tính tự trị cao của làng xã Việt Nam ("Phép vua thua
lệ làng") đã tạo điều kiện để các lễ hội này trở thành trung tâm của đời
sống văn hóa, thay thế chức năng mà Tết Đoan Ngọ đảm nhận ở các quốc gia có chu
kỳ một vụ như Hàn Quốc. Trong khi người Hàn Quốc thực hiện các trò chơi dân
gian vào Tết Nguyên đán, Đoan Ngọ và Trung thu, thì người Việt lại dồn các hoạt
động này vào hội làng. Điều này giải thích tại sao cùng một gốc văn hóa, nhưng
hình thái biểu hiện ở hai nước lại hoàn toàn khác biệt.
Một khía cạnh quan trọng
khác trong tiếp biến văn hóa là sự lựa chọn dựa trên tâm lý bản địa. Người Việt
có xu hướng đặc biệt coi trọng các ngày lễ liên quan đến chu kỳ mặt trăng (như ngày
mồng một và ngày rằm hàng tháng âm lịch) và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, linh hồn.
Đối với cư dân nông nghiệp lúa nước, mặt trăng không chỉ là thiên thể điều tiết
thủy triều mà còn là "kim chỉ nam" cho lịch thời vụ, tạo nên một sự gắn
kết bền chặt về mặt tâm thức qua nhiều thế kỷ.
*
* *
Tết Đoan Ngọ, thông qua
lăng kính so sánh giữa Việt Nam và Hàn Quốc, không chỉ là một ngày lễ mà còn là
một "văn bản" văn hóa phản ánh sự tương tác phức tạp giữa con người
và môi trường sống. Nếu người Hàn Quốc duy trì được sức sống của Đoan Ngọ nhờ sự
tương đồng về nhịp điệu sinh thái, thì người Việt lại thể hiện bản lĩnh văn hóa
bằng cách chuyển hóa chức năng của nó vào hệ thống lễ hội làng xã địa phương. Quá trình tiếp biến này cho thấy rằng một yếu
tố văn hóa ngoại lai chỉ có thể tồn tại khi được nhào
nặn để trở nên hữu dụng và hài hòa với đặc điểm tự nhiên và thực tế đời sống của dân
tộc tiếp nhận.
CHÚ THÍCH
Bài viết được tổng hợp lại
dựa trên những đoạn trích liên quan từ trong bài viết “Nguyên nhân dẫn đến sự
tương đồng và dị biệt về mặt phong tục và nghi lễ lịch tiết giữa người Việt và
người Hàn Quốc” của tác giả Gu Bon Seog (Cựu Nghiên cứu sinh, Viện Nghiên cứu
Văn hóa) đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian (tên gọi trước đây của Tạp chí
Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam) Số 2 (74) – 2001.
Chi đoàn Viện Nghiên cứu Văn hóa