"Huyền thoại và tạo dựng huyền thoại trong du lịch": quá trình tái cấu trúc biểu tượng Nàng Han và thần linh bản địa ở Quỳnh Nhai, Sơn La
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết ""Huyền thoại và tạo dựng huyền thoại trong du lịch": quá trình tái cấu trúc biểu tượng Nàng Han và thần linh bản địa ở Quỳnh Nhai, Sơn La” của TS. Phạm Đặng Xuân Hương và TS. Đỗ Thị Thu Hà (Viện Nghiên cứu Văn hóa).

Lễ
hội Đua thuyền diễn ra vào ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại bến
cầu Pá Uôn cũng được tiến hành sau "Lễ dâng hương tưởng nhớ Nàng Han”.
Nguồn: Hình minh họa tạo bởi công cụ Trí tuệ nhân
tạo (AI)
Du
lịch di sản là một động lực mạnh mẽ trong việc xây dựng và duy trì bản sắc dân
tộc, góp phần làm sáng tỏ những biểu tượng lịch sử và giữ chúng trong sự tôn
kính của cộng đồng. Thông qua một vài "khuôn mẫu được chọn lọc về con
người, địa điểm và huyền thoại" (Ashworth 1994: 25), ngành du lịch đã tạo
ra một tập hợp các trung tâm du lịch
thiêng liêng và là "di sản chung của chúng ta". Thông điệp này cho phép mỗi cá nhân cảm nhận điểm đến,
điểm tham quan là nơi mà họ "đang trải qua một điều gì đó quan trọng, một
điều gì đó có ý nghĩa về việc họ là ai"
(Palmer 1999:14), từ đó thực hiện - trong trí tưởng tượng - các cuộc hành hương
tâm linh và lịch sử tới những huyền thoại và ký ức chung vốn tạo thành
một phần ý thức về bản sắc dân tộc của họ.
Trong
quá trình cấu trúc và tái cấu trúc biểu tượng Nàng Han và hệ thống thần linh
bản địa của dân tộc Thái trắng trong chiến lược phát triển du lịch di sản của
huyện Quỳnh Nhai (Sơn La) sau công cuộc di dân phục vụ công trình thủy điện, ký
ức và huyền thoại đã được sử dụng như một yếu tố tiềm năng, một chiến lược tiếp
thị mạnh mẽ để kiến tạo nên một quần thể di tích linh thiêng chung nhằm thu hút khách du lịch
đến từ nhiều nơi, qua đó, bản sắc dân tộc và sự cố kết cộng đồng được duy trì
và phát triển.
Bối cảnh và cơ sở truyền thuyết nàng Han
Cái
tên Quỳnh Nhai không mới, nhưng quá trình di dân, tái định cư làm thủy điện đã
mang đến những thay đổi lớn về địa giới, thành phần dân cư, nhịp vận hành và sinh kế.
Việc di chuyển trung tâm huyện lỵ ra gần hơn với thành phố Sơn La [1], sự thay
đổi cảnh quan, khí hậu và môi trường sinh thái đã đặt ra một nhu cầu về việc
khai thác các điều kiện sẵn có. Một không gian mới, với nhiều các yếu tố được tạo dựng. Hướng tới
sự phát triển du lịch, nhu cầu về sự đa dạng hóa các loại hình cung cấp, tức
các sản phẩm du lịch bổ sung, chẳng hạn như mở rộng các điểm tham quan và các
sự kiện văn hóa theo cách mà Cruz (2010) hay Valle và các cộng sự (2011) đã nói
tới trở thành một nhu cầu cấp thiết với Quỳnh Nhai. Sơn La đã có một Mộc Châu
đang rất hút khách từ chính sức hấp dẫn tự thân, và Quỳnh Nhai, nếu muốn trở
thành một địa điểm du lịch mới, cần tạo lập một không gian riêng với sự tận
dụng tối đa các tiềm năng tại chỗ sẵn có.
Pérez-Aranda,
Guerreiro và Mendes (2015) cho rằng, xuất phát từ nhu cầu của khách du lịch
trong việc tiêu thụ các sản phẩm văn hóa, các điểm du lịch hiện đang tìm kiếm
sự khác biệt để tăng sức hấp dẫn. Cách làm ở nhiều nơi đã cho thấy, huyền thoại
có thể đóng vai trò là một nguồn tài nguyên du lịch. Những gì diễn ra ở Quỳnh
Nhai cũng cung cấp dữ liệu về điều tương tự. Hệ thống huyền thoại với những câu
chuyện, những nghi lễ, lệ tục, lễ hội xoay quanh nhân vật Nàng Han và hệ thống
thần linh bản địa đã được sử dụng để tham gia vào quá trình tạo dựng một không
gian Quỳnh Nhai đầy khác biệt so với các khu vực khác trên địa bàn.
Nàng
Han là tên một nữ tướng huyền thoại được lưu truyền từ lâu khắp vùng người Thái
trắng ở Tây Bắc và xứ Thanh Nghệ. Nãng
ý chỉ cô gái/ người đàn bà, Hãn có
nghĩa là gan dạ, dũng cảm. Dân ca nghi lễ Thái có câu "Nước sâu Nàng Han
đi trước, đánh giặc Nàng Han đi trước" (Nặm lợk Nang Han pay cón, tặp xớk Nang Han pay cón). Tương truyền,
Nàng đã giả trai, cầm đầu binh mã, lãnh đạo nhân dân 16 châu Thái đánh thắng
giặc Giẳng [2] ở phương Bắc tràn xuống quấy nhiễu, giữ yên bờ cõi và cuộc sống
yên vui cho bản mường.
Có
nhiều dị bản khác nhau về câu chuyện Nàng Han đánh giặc, đặc biệt phổ biến là
các bản được lưu truyền ở các mường tại Lai Châu và Sơn La. Trong đó, một phiên
bản đáng chú ý là câu chuyện về Nàng Han theo văn bản ghi chép chữ Thái bằng
bút lông gà ở thời điểm trước những năm 1980 của ông mo chuyên thực hiện nghi
thức cúng Nàng Han tại Quỳnh Nhai lưu giữ. Theo đó, khoảng đời Phìa Tạo thứ 12
[3] (tính từ đời Tạo Xuông, Tạo Ngần xuống dựng mường Lò Luông), tại mường Cang
Ta Mít (huyện Than Uyên, Lai Châu), có nhà Tạo Chưng Láy sinh được hai cô con
gái là Ỏ và Ẻ. Nàng Ỏ là cô chị, dung mạo khác người, tính tình gan dạ. Khi
thấy bản mường bị giặc Giẳng xâm chiếm, nàng đã giả trai để tham gia đầu quân
đánh giặc ở mường So (Phong Thổ), sau đó được phong tướng, lập nhiều chiến
công, "đánh trận nào thắng trận đó".
Sau
khi đánh đuổi giặc ra khỏi biên giới, nàng trở lại Mường So vào đúng ngày 30
tháng Chạp. Nàng ban lệnh cho dân bản tổ chức ăn mừng, đón chào năm mới, rồi
tranh thủ xuống bến gội đầu, tắm rửa, nhưng không may bị một toán tàn quân giặc
nấp phục phát hiện và bắn chết. Ba ngày sau, những người nghèo khó trong bản
vào rừng mới phát hiện ra xác chết, nhận ra tướng quân và biết tướng quân là nữ
giả trai, họ vô cùng thương xót, đào hố chôn cất nàng cẩn thận. Từ đó trở đi họ
trở nên giàu có nhanh chóng, gia đình đông đúc yên vui, con cháu hạnh phúc. Dân
bản thấy lạ mới đến hỏi thăm, họ kể thành thực câu chuyện chôn cất nữ tướng
trong rừng và được Nàng phù trợ.
Bấy
giờ cả bản Mường So mới bàn nhau di chuyển nấm mồ về gần mó nước tại khu rừng cấm
trong bản, gọi là mộ Nàng Han (nghĩa
là Nàng dũng tướng anh hùng). Những
năm tiếp theo, Mường So được Nàng phù hộ "của đầy hòm, gia súc đầy gầm sàn", làm gì cũng được, muốn gì
cũng nên. Tin đồn lan đi, chủ mường (chảu
mường) 16 châu Thái mới cho họp bàn rồi thông báo cho đủ 16 châu đi đến
Mường So đón hồn Nàng đi các nơi phù hộ cho toàn xứ Thái. Mường So sở tại được
ưu tiên lấy phần hồn đầu về
"dựng nhà mới" cho Nàng ở. Tiếp đó, Mường Lò anh cả đến trước đón
"lấy hồn trai gái Nàng Han"
vào hang Thẳm Lé phù hộ cho bản mường. Nàng É em gái nàng Han đến đón hồn tay, hồn vai chị về mường cũ Ta Mít
thờ cúng. Mường Thanh, Mường Muổi, Sốp Cộp, Sông Mã đến đón lấy hồn cổ Nàng về bãi đất bằng Thanh Nưa,
làm nhà mới cho nàng ở giữa rừng cây. Mường Lay "đón hồn eo thân
Nàng" đi về ngã ba sông Đà (nặm Na, nặm Láy), chôn cất trên mô đất nhỏ,
dựng cột mường (lắc mương) bên cạnh.
Chỉ có dân Mường Chiên (Quỳnh Nhai) vì ở xa nên đến chậm, chỉ lấy được hồn phần dưới của Nàng, đồng thời đón cả
hồn quan quân tướng lĩnh về, đắp thành ba nấm mộ (ba ụ đất) nhỏ nằm sát nhau
bên bờ suối Nặm Phung. Một là “nhà” để Nàng Han ở, một cho quan quân canh gác
và một cho nhà bếp nấu ăn cho đội quân của Nàng. Từ đó, tục truyền cho dân các
bản xung quanh thờ cúng Nàng, từ đời này sang đời khác.
Tái cấu trúc biểu tượng huyền thoại trong
chiến lược phát triển du lịch di sản ở Quỳnh Nhai
Tạo lập các không gian
thiêng
Quá
trình tạo lập các không gian thiêng liên quan tới Nàng Han và thần linh bản địa
người Thái trắng của Quỳnh Nhai có thể được hình dung với hai giai đoạn. Thời
kì ý thức và tạo dựng - diễn ra từ
năm 2011 đến năm 2012 (xây dựng và khánh thành đền Linh Sơn Thủy Từ, đền Nàng
Han); thời kì khai thác và làm mới -
diễn ra từ 2012 đến nay.
Ở
giai đoạn đầu tiên, việc dựng hai ngôi đền Linh Sơn Thủy Từ và Nàng Han được xác định nhằm hướng tới ba mục
đích chính: (1) Duy trì, khôi phục
nét đẹp văn hóa dân tộc, các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng gắn với lễ hội Đua
thuyền [4]; (2) Giới thiệu và quảng
bá về Quỳnh Nhai, "mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, truyền thống lịch
sử cách mạng và tiềm năng du lịch góp phần thúc đẩy phát triển về kinh tế - văn
hóa - xã hội, tăng tỷ trọng thương mại dịch vụ, du lịch cho huyện nhà"; (3) Nâng cao dân trí, mở rộng đối ngoại
hợp tác, giao lưu văn hóa, thiết lập mối quan hệ với các địa phương trong tỉnh,
tạo mối quan hệ giao lưu đoàn kết giữa các dân tộc trong huyện [5].
Theo
hồi ức của nhân dân Mường Chiên (cũ), trước khi vùng lòng hồ thủy điện Sơn La
bị ngập trũng thì khu 3 nấm mộ chôn cất nàng Han và các tướng lĩnh của nàng nằm
sát bờ suối Nặm Phung và thuộc về khu rừng chung, nơi hai bản Chẩu Quân, Nghe
Toỏng sinh sống. Về sau, dân bản gọi đó là Đông Nàng Han - một khu rừng thiêng
(đông xửa) của vùng, không ai dám xâm phạm. Cách đó không xa, nơi hai dòng suối
Mường Chiên và Nặm Cỏ đối diện nhau hợp lưu với sông Đà tạo thành ngã ba sông
suối còn có một ngôi miếu thờ thần Núi, thần Sông. Đền do người Hoa xây dựng từ
mấy trăm năm về trước, sau này được các bản xung quanh sử dụng làm đền thờ phi
bản phi mường, thần sông thần núi … chung) [6].
Câu
chuyện về sự di chuyển và sắp đặt hai không gian thiêng đã không được tính đến
từ đầu trong giai đoạn di dân. Mọi nguồn lực và sự chú tâm dồn vào việc tính
toán các phương án di chuyển, tìm kiếm các nơi định cư cũng như các loại hình
sinh kế cho cuộc sống mới. Trong vòng 3 năm (từ 2005 đến 2008), Quỳnh Nhai tính
toán các phương án cho dân vùng di cư, đưa ra các hình thức cho người dân lựa
chọn hoặc hoặc sắp xếp theo sự đề xuất chủ động của người dân. Việc di dân hay
tái định cư được tiến hành theo nhóm, không theo hình thức cá nhân, với vai trò
quan trọng của trưởng nhóm. Chính quyền tổ chức và đưa người dân đi khảo sát
tại các vùng đất họ được gợi ý hoặc nơi họ chủ động tìm kiếm và dự kiến định
cư, bàn tính các phương án sinh kế. Hình thức tổ chức này khiến các không gian
di cư và tái định cư của Quỳnh Nhai rất đa dạng. Người dân có thể tạo lập cuộc
sống theo kiểu xen kẽ cài răng lược với dân tại các bản khác, hoặc họ cũng có
thể di chuyển tới các không gian mới cả trong và ngoài địa bàn huyện Quỳnh Nhai
như Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, thành phố Sơn La. Hình thức di vén (di
chuyển lên phía trên, cao hơn mực nước dâng) cũng được một số bản lựa chọn.
Khi
những bất thường xảy đến, xuất hiện những thông tin cho rằng, nguyên do nằm ở
việc hai nơi thờ cúng (đền thờ thần đất, thần sông, núi và khu rừng thiêng thờ
Nàng Han) đã không được di chuyển. Dân còn truyền tai nhau, bà Nàng Han
"nhập vào các bà trong huyện cũ", nói rằng "tôi là chúa ở Quỳnh
Nhai mà huyện không chuyển", "bây giờ huyện đi hết rồi, chúng tôi
ngập ở đấy không ở được", "các ông bà chuyển mà không chuyển chúng
tôi đi theo, nếu không đi gọi chúng tôi về theo, không dựng nhà cho chúng tôi
thì sẽ còn chết nữa" [7]. Sự tồn tại trên thực tế của hai không gian
thiêng tại huyện cũ, sự thiếu vắng một nghi lễ chính thức để di chuyển các thần
linh và các điểm thờ cúng tại nơi ở mới, sự xuất hiện các rủi ro bất thường và
các điềm báo khiến việc tạo dựng một không gian thờ cúng tại địa điểm mới trở
nên không thể trì hoãn.
Việc
xây dựng hai nơi thờ cúng diễn ra chỉ trong thời gian rất ngắn. Từ lên kế
hoạch, đề án, tổ chức hội thảo, khảo sát địa điểm đến xây dựng được thực hiện
trong thời gian từ tháng 10/2011 đến cuối tháng 12/2011, và ngày 01/01/2012 đã
diễn ra lễ rước thần linh và nàng Han từ huyện cũ sang đền thờ mới. Theo văn
bản lưu giữ, việc tổ chức lễ cúng để đón các thần linh và nàng Han được huyện
tổ chức trọng thể với sự tham gia của các ban ngành trong chính quyền và đại
diện dân các bản trong huyện. Lễ đón được chia ra làm 2 phần: 1, lễ rước thần
linh và nàng Han từ địa phận huyện cũ; 2, lễ đón thần linh và nàng Han về huyện
mới. Một thầy mo Then người Thái trắng thực hiện nghi lễ đón thần linh tại bản
Bon (cách huyện mới khoảng 30 km). Sau khi bản Nghe Toỏng và Chảu Quân di dân,
bản Bon được lựa chọn để thờ cúng thần linh. Với Nàng Han, nghi thức rước được
thực hiện tại nhà bà mo Lường Thị Ngoai (bản Quyền, xã Mường Chiên). Sau lễ
rước này 4 tháng mới chính thức diễn ra lễ khánh thành đền vào tháng
5.2012.
Bắt
đầu từ đây, một không gian tâm linh mới đã chính thức tham gia vào nhịp vận
hành của đời sống Quỳnh Nhai. Và theo đề án xây dựng được phê duyệt vào năm
2016, hai ngôi đền này thậm chí sẽ chỉ còn là một phần của quần thể di tích [8].
Diện mạo mới và những khuôn
mẫu được lựa chọn
Với
nhiều người Thái tại đây, diện mạo hai ngôi đền mới mang đến một cảm giác
"vừa quen vừa lạ". Quen, vì đền được dựng nhằm thờ cúng các vị thần
núi thần sông, thần lập bản dựng mường, bà Nàng Han linh thiêng trong ký ức.
Quen, còn bởi nhiều các yếu tố huyền thoại bao quanh hệ thống tâm linh này được
tham gia vào quá trình tạo dựng không gian và thực hiện trong nghi thức. Lạ, vì
diện mạo và hình thức/ lệ tục thờ cúng có nhiều khác biệt.
Theo
trí nhớ của nhiều người già tại bản Nghe Toỏng và Chẩu Quân, nơi thờ thần linh
bản mường trước đây có tên nhà méo [9], một ngôi nhà xây cấp bốn có ba
gian, bên trong có chuông và tượng. Nơi cúng Nàng Han nằm trong khu rừng cấm (đông sửa). Nhà méo và đông Nàng Han cách nhau con suối Nặm
Phung, khi có lễ thì cần hai người thực hiện nghi thức cúng tại cả hai nơi. Tại
nhà méo thờ các phi bản phi mường trong
huyện cũ, bên trong tuy có dấu vết của tượng nhưng đã rất cũ kỹ và không rõ
hình tướng. Trong văn bản giới thiệu tích đền ban đầu cũng ghi rằng, "Đền
thờ được xây dựng từ rất lâu đời từ mấy trăm năm về trước thế kỉ XVII. Do người
Hoa dựng. Trong nhà và ngoài sân được trang trí đủ các thần, những hiện vật giá
trị cao"[10]. Sau này [11], đền được bà con các bản Thái trắng xung quanh
trưng dụng làm nơi thờ cúng các thần linh bản địa (phi bản, phi mường, phi nặm, phi pá [12] …). Trong bản kế
hoạch xây dựng và các nghi lễ ở buổi đầu, nơi thờ tự này vẫn mang tên Miếu thờ Thần linh hay Miếu thờ Thần sông, Thần núi. Hiện tại,
đền đã được đặt tên chính thức theo âm Hán Việt là Đền Linh Sơn Thủy Từ, với sự xuất hiện
của các pho tượng mới, những thần linh mới và cách diễn giải có nhiều khác
biệt.
Ngôi
đền được gắn tấm biển "Công trình chào mừng kỉ niệm 60 năm giải phóng
Quỳnh Nhai, 10/2012". Phía bên ngoài, biển giới thiệu ghi rõ, đền được
dựng "trên cơ sở một số cổ vật linh thiêng lấy từ ngôi miếu thờ thần sông,
thần núi tại bản Mường Chiên, xã Chiềng Pha". Riêng về ngôi miếu cũ, văn
bản có ghi: "Tương truyền, miếu thờ thần sông, thần núi được người dân xã
Chiềng Pha tạo lập từ trước thế kỉ XVII theo tín ngưỡng phồn thực, thờ cúng các
hiện tượng siêu nhiên (…), để cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt,
cho chăn nuôi phát triển, khai thác bội thu sản vật tự nhiên từ núi, rừng, sông,
suối; cầu cho gia đình hòa thuận, cho bản, làng đoàn kết và cầu cho Quốc thái,
Dân an" [13].
Đền
dựng với ba gian. Gian giữa bài trí ba pho tượng Tam thế Phật theo hàng ngang,
và ở chính giữa, trước pho tượng Phật lớn nhất có đặt tượng Bác Hồ. Ngay sát
tượng đặt hai tấm biển, bên trái là dòng chữ "Phục vi kính tiên thần linh Sơn thần" (Cúi mình kính lạy
các vị các vị thần núi), bên phải ghi "Phục vi kính tiên thần linh Thủy thần" (Cúi mình kính lạy
các vị thần nước). Hai gian trái phải đặt bài vị, bên trái có dòng chữ
"Cung tiến các anh linh anh hùng
liệt sỹ", bên phải ghi "Cung
tiến người địa phương có công và vong hồn lưu lạc". Trên mái, phía
trung tâm là câu "Từ quang phổ chiếu"
(Ánh sáng từ bi chiếu rọi khắp nơi), bên trái, phải lần lượt ghi "Sơn thần tối linh" và "Thủy thần tối linh". Toàn bộ hệ
thống chữ viết là chữ tiếng Việt in hoa. Trên các bức tường trong đền treo
nhiều bức ảnh chụp Hòa thượng Thích Quảng Tùng, Phó ban trị sự, Trưởng ban từ
thiện Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam lên thăm đền và làm từ thiện tại
huyện. Bên cạnh đó là các bức ảnh Thượng tọa Thích Tâm Thuần lên quy y và giảng
pháp cho bà con Phật tử huyện Quỳnh Nhai.
Hiện tại, trong
không gian đền Linh Sơn Thủy Từ đang diễn ra sự tích hợp của nhiều loại hình
nghi lễ, được thực hành bởi nhiều nhóm người khác nhau. Một lễ dâng hương đầu
và cuối năm âm lịch do một ông mo người Thái trắng đảm nhận với vai trò chủ áo/
chủ lễ (chảu xửa). Dưới điện thờ Tam thế Phật và tượng Bác Hồ, ông mo
Thái trắng đọc bài cúng trong tiếng Thái, mời “ông Then lớn sao trời”, “Chủ Then Bun, Then Chăng”, “Chủ nơi dựng đất dựng trời”, “Bốn vệt nắng tám vệt mưa”, “Ba mươi chủ đất” xứ Thái, “chín mươi quan Tạo” mường Thái, “tất cả quân binh gan dạ anh hùng”, “ông phá đất dựng bản”, “ông se đá se đất dựng mường”, “ông ma rừng”, “ông cây đa cây đề đan chài”, “ông
cây si đan sọt”, “ông ở đầu sông”,
“chủ nhà méo rừng vàng”, “chủ nàng Phứa, nàng Han”, “thuồng luồng vằn”, “tạo rắn”, “mời pú chảu [14] Hồ Chí Minh”,... Các lễ cúng nhận con nuôi, gửi áo cũng được ông
mo tiến hành tại đền nếu gia đình Thái trắng nào đó có nhu cầu.
Bên cạnh đó,
các lễ thức thường niên của đạo Phật cũng diễn ra tại đền. Trước rằm tháng
Giêng, một lễ Dâng sao giải hạn đầu năm được các nhà sư thực hiện, cúng riêng
cho các hộ dân đăng kí tham gia. Lễ Phật đản (8-4), lễ Vu Lan rằm tháng bảy
cũng được nhà đền tiến hành trong phạm vi rộng. Vào ngày rằm và mùng 1 hàng
tháng, nhiều người Kinh đến lễ tại đền.
Với
đền Nàng Han, dấu ấn của sự tạo dựng và làm mới càng trở nên rõ nét, đặc biệt
khi trong quá khứ, người Thái trắng tại Quỳnh Nhai không có một đền thờ riêng
dành cho bà Nàng, và người Thái
đen tại đây thì không có lệ thờ bà. Không gian gắn
với sự linh thiêng của Nàng Han là khu rừng cấm với cây ngụn cổ thụ "rất to", "to nhất huyện Quỳnh
Nhai" [15]. Cây ở bên bờ sông Đà, dây leo chằng chịt, có ba ụ đất to với
ba nhà tre nhỏ dựng lên khi có lễ. Bình thường, không người Thái nào dám đến
nơi này, cũng không ai hương khói thờ cúng tại đó, chỉ "lúc có việc cần
thiết mới vào cúng" [16]. Thường, mỗi năm sẽ có hai lần cúng tại nơi rừng
thiêng này, vào trước và sau tết. Trước ngày tế lễ, người ta tới dọn dẹp [17]
để chuẩn bị cho thầy mo và dân bản làm lễ cúng hỏi bà Nàng [18]. Bằng thanh
tre, que bói hoặc đồng tiền, thầy mo Thái bói để biết thông tin về thời gian ăn
tết mà Nàng Han cho phép. Nếu bói biết được ăn tết 5 ngày thì hết ngày thứ năm
sẽ phải làm lễ cúng.
Quan niệm dân
gian Thái cho rằng sau khi lên trời, Nàng Han (hay Nàng Ỏ) trở thành một Phi
Tạo và ngụ tại một mường riêng, cai quản nhiều âm binh oai hùng. Mọi nghi lễ,
lễ hội của người Thái trắng (đặc biệt ở những vùng có miếu thờ hoặc khu rừng
thờ Nàng Han) đều bắt buộc phải có nghi thức dâng lễ vật lên đến mường nàng
Han, cầu xin sự phù trợ hoặc cho phép của Nàng. Các mo Một, mo Then người Thái
trắng cũng thường mời nàng Han và âm binh của nàng xuống trợ giúp trong những
lễ cúng quan trọng [19].
Tương
truyền, khu rừng rất linh thiêng, "đông
ấy ai mà vào phát hay phá thì bị ngay, bị điên bị chết" [20]. Dân bản còn
kể rằng, ngày xưa không có đường ô tô lên Lai Châu, dân xứ Tây Bắc đi bằng
đường thuyền, đường thủy. Người đi lấy muối, lấu dầu dưới Hòa Bình, Chợ Bờ khi
đi qua rừng nàng Han buộc phải xuống thuyền để đẩy, không được chống hay chèo
qua. Sự linh thiêng của khu rừng Nàng Han còn được minh chứng thêm bằng câu
chuyện kể rằng, khi bên điện lực bắc dây điện qua sông Đà, lúc thòng dây qua
cây cổ thụ, một thợ điện bị tai nạn ngã xuống. Điều đó được người dân giải
thích là "do nàng Han bắn" [21].
Từ
không gian trước đây của nơi cúng nàng Han, ban đầu, việc dựng đền thờ bà Nàng
được quy hoạch ngay cạnh gốc đa ven đường vào cầu Pá Uôn, và miếu thờ các Thần
linh được xây trên đồi đối diện. Tuy nhiên, nơi dự kiến dựng đền bà Nàng lại
nằm trên lối vào một bản di vén người Thái đen. Do người Thái đen không thờ
Nàng Han nên dân trong bản phản đối việc dựng đền trên đất của họ. Đền Nàng Han
do đó được đổi sang cùng khu với đền Thần linh, cùng quay hướng phía lòng hồ
thủy điện nhưng ở vị trí thấp hơn. Hai không gian vốn tách biệt và cách xa, nay
cùng nằm chung tại một địa điểm. Từ một góc rừng già với cây cổ thụ được xem là
rất linh thiêng, nơi thờ cúng bà Nàng chuyển sang kiến trúc gạch ngói kiên cố
với pho tượng nữ tướng được đặt sâu phía bên trong. Tượng tạc một người phụ nữ
có khuôn mặt tròn, tóc chải hất ngược ra sau, tư thế ngồi xếp bằng, hai tay đặt
lên đùi. Chiếc áo cóm Thái nổi bật
với hàng cúc bướm, ba chiếc kiềng đeo cổ sáng lấp lánh. Bên trong miếu, ngoài
hai con hạc đồng còn có cặp rắn xanh, rắn trắng (Thanh Xà, Bạch Xà) uốn lượn
trên mái cùng chùm nón Tứ Phủ nhiều tầng (còn gọi là nón Dùm) treo chính giữa.
Phía bên ngoài đền thờ có một cái giếng nhỏ được xây hoàn toàn bằng đã cuội,
nước trong và mát mang tên "Giếng
nước thiêng". Người trông coi đền chỉ dẫn, nếu ai muốn múc nước giếng
cho vào chai mang về thì bỏ chút tiền lẻ lên đĩa để xin với bà Nàng.
Người
dân phản hồi rằng, pho tượng Nàng Han không giống với hình dung của họ. Trên
thực tế, dung mạo của Nàng Han thực sự chỉ tồn tại trong tâm thức và trong
tưởng tượng, cả trong quá khứ cũng không có hình mẫu cụ thể nào về nhân vật
này. Những quan sát tại đền vào ngày tết âm lịch cho thấy, nhiều người Thái đến
xem Nàng Han và đền thờ bà mà không
thực hành bất kì nghi thức cúng lễ nào tại điểm đến. Việc cúng khấn với tư cách
cá nhân hướng tới các vị thần sông núi, thần bản mường tại các điểm thờ cúng
khi không có vấn đề cụ thể cũng không phải là điều quen thuộc với người Thái
nơi này. Ngoài ra, với các vấn đề tâm linh cụ thể (cả ở cấp độ cá nhân, gia
đình, bản mường), thông thường thầy mo sẽ là người được nhờ để thực hiện các
nghi thức giao tiếp với các lực lượng siêu nhiên.
Việc
làm mới không gian thờ cúng Nàng Han cùng các nghi lễ tại Quỳnh Nhai còn được
thực hiện với sự tham khảo từ Đền Nàng Han ở Mường So (Phong Thổ, Lai Châu).
Một số người tham gia các chuyến đi tới Phong Thổ cho biết, họ phải đi tìm
kiếm, hỏi han, xem xét vài lần trước khi hoàn chỉnh ngôi đền tại Quỳnh Nhai.
Việc đền thờ Nàng Han bên Lai Châu được công nhận là di tích Quốc gia được xem
là một chuẩn mực về kiến trúc, và có ảnh hưởng không nhỏ tới diện mạo của ngôi
đền ở Quỳnh Nhai. Chiếc giếng cổ dựng trong khuôn viên đền thờ cũng được mô
phỏng theo ngôi đền tại Lai Châu, với hình dạng đặc trưng là các viên đá cuội
to xếp chồng từ dưới lên trên miệng giếng [22].

Truyền
thuyết về Nàng Han đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo dựng một không
gian Quỳnh Nhai đầy khác biệt so với các khu vực khác trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Nguồn:
Hình minh họa tạo bởi công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI)
Màu
sắc huyền thoại bao phủ lên các chi tiết liên quan tới hành trạng và cuộc đời
của Nàng Han cũng đã được Quỳnh Nhai sử dụng trong việc kiến tạo nên một hệ
thống không gian và nghi lễ liên quan quanh khu vực này. Việc thờ cúng bà Nàng
hiện diễn ra quanh năm suốt tháng, với nghi lễ cúng chính thức được nhà đền
thực hiện vào ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng. Ngoài ra, tại đây hiện còn
tổ chức Lễ kỵ nhật, tức ngày mất của nữ tướng nàng Han. Đây là nghi lễ chưa
từng có tiền lệ tại Quỳnh Nhai. Học theo lệ tục tại đền thờ bà Nàng trên Phong
Thổ (Lai Châu), nơi đã được nhà nước công nhận di tích cấp Quốc gia, ngày giỗ
của Nàng Han được xác định vào thời điểm 14, 15 tháng 2 âm lịch. Trước đó,
người Thái trắng Quỳnh Nhai không hề có ý niệm về việc tổ chức giỗ, cũng như
không có thông tin về thời điểm mất của nữ tướng này. Nhiều lễ hầu đồng cũng
được thực hiện tại đền, đặc biệt trong dịp đầu năm âm lịch.
Câu
chuyện huyền thoại về nàng Han còn liên quan mật thiết với Lễ Gội đầu vào ngày 30 âm lịch hàng
năm diễn ra tại bến Pom Sinh dưới chân ngọn núi dựng đền. Truyền thuyết Nàng
Han sau khi dẹp xong giặc vào trưa 30 Tết đã ban lệnh cho cho quân sĩ nghỉ ngơi
tắm gội để mừng chiến thắng và đón năm mới đã cung cấp ngữ liệu cho lễ thức
này. Gội đầu để gột rửa những điều không may mắn của năm cũ, để cái xấu, cái
đau ốm, hạn rủi trôi theo dòng suối. Lễ hội Đua thuyền diễn ra vào ngày
mùng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại bến cầu Pá Uôn cũng được tiến hành sau
"Lễ dâng hương tưởng nhớ Nàng Han" - "vị
nữ tướng tài giỏi của người Thái" - nhằm
"cầu mong Nàng Han linh thiêng phù hộ cho nhân dân có cuộc sống ấm no, an
lành" [23].
Kiến tạo huyền thoại trong du lịch và bản sắc
văn hóa dân tộc
Các cuộc hành hương tâm linh và lịch sử tới
"những huyền thoại chung và ký ức lịch sử" vốn tạo thành một phần ý
thức về bản sắc dân tộc... Nói cách khác, ngành công nghiệp di sản thể hiện một
nền du lịch của chủ nghĩa dân tộc, nơi cảnh quan đang chờ được "đọc"
là cảnh quan của bản sắc dân tộc (Palmer, 1999). Rõ ràng là, với một số khuôn
mẫu được lựa chọn về con người, địa điểm và huyền thoại, ngành công nghiệp du
lịch di sản liên tục nhấn mạnh các khía cạnh cụ thể nào đó của quá khứ như thể
chúng là "đại diện hiện tượng thống nhất của quốc gia" (Wash, 1990).
Khi xác định được các khía cạnh này, khách du lịch nội địa tạo ra sự kết nối
giữa họ và quốc gia, trong khi khách du lịch nước ngoài coi chúng là dấu ấn đặc
biệt của quốc gia nơi họ đến (Lanfant 1995: 16). Nói cách khác, một bản sắc
được tạo dựng thông qua du lịch, qua tham quan di sản là điều không cần bàn
cãi.
Theo
Nguyễn Văn Chính (2019), trong bối cảnh hiện nay, trước làn sóng hội nhập kinh
tế và toàn cầu hóa, Việt Nam có khuynh hướng quay trở lại với chủ nghĩa dân
tộc, xem việc trở lại với cội nguồn, tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống
và cố kết dân tộc như một chiến lược văn hóa trong thời đại hội nhập. Một mặt,
chúng ta tôn trọng quá trình tiếp biến văn hóa, tiếp nhận và chuyển hóa các yếu
tố văn hóa quốc tế vào kho tàng văn hóa của ta, mặt khác, tìm kiếm những biểu
tượng mới của bản sắc văn hóa Việt Nam đặng có thể giúp cố kết dân tộc nhằm
cạnh tranh thắng lợi trong một thế giới được tổ chức bởi các quốc gia - dân
tộc. Ví dụ, đạo thờ cúng tổ tiên và tôn vinh Quốc tổ - Vua Hùng đã được nhìn
nhận lại như một "quốc đạo" và một biểu tượng mới đại diện cho bản
sắc văn hóa và đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của người Việt Nam (xem
thêm Nguyễn Văn Chính 2019).
Quá
trình kiến tạo huyền thoại Nàng Han ở Quỳnh Nhai có thể đặt trong khung tham
chiếu của bối cảnh này. Một số ý nghĩa đặc thù của huyền thoại được nhấn mạnh,
chẳng hạn, nhân vật là một ví dụ vĩ đại của "truyền thống chống
ngoại xâm", "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh", "miền
núi và miền xuôi cùng đoàn kết đánh giặc". Những điều này vốn đã được
tôn vinh như những giá trị của bản sắc văn hóa Việt Nam. Một cộng đồng đa dân
tộc rộng lớn với những ký ức tập thể về một lãnh thổ chung, mối bận tâm chung
(giặc phương Bắc thường xuyên quấy nhiễu biên giới) và một chủ nghĩa yêu
nước chiến thắng đã được bồi đắp qua suốt chiều dài lịch sử. Các khía
cạnh được lựa chọn này sẽ góp phần tạo ra một tình yêu chính trị, một cảm giác
tự hào dân tộc, một giao cảm phẩm hạnh đạo đức cao cả cho khách du lịch nội địa
khi đến tham quan và trải nghiệm cuộc hành hương lịch sử tại đây.
Ở
một khía cạnh khác, từ góc độ cuộc hành hương tâm linh, trải nghiệm về
một cộng đồng tôn giáo chung cũng đã được tạo dựng với hàng loạt các
động thái. Không gian thiêng có sự chuyển đổi tên gọi từ nhà méo (tiếng Thái, địa phương)
sang Linh Sơn Thủy Từ (Hán Việt,
phổ thông). Hình tướng các pho tượng thờ cúng trong đền được tạo mới và đa dạng
hóa với tượng Phật tam thế, tượng Phật Bà, tượng Bác Hồ, tượng nữ tướng Nàng
Han. Những sắp xếp trong đền Linh Sơn Thủy Từ mang dáng dấp một ngôi chùa thờ
Phật, và không gian đền Nàng Han lại được bài trí tương tự nội điện Mẫu Tam phủ. Các nghi lễ của cộng
đồng dân tộc Thái như lễ Gội đầu (cuối năm), lễ Đua thuyền (đầu năm), lễ nhận
con nuôi (do thầy mo thực hiện tại nơi thờ các vị thần nước thần núi, gian thờ
Nàng Han) được diễn ra song song với các lễ phổ biến trong thực hành Đạo Mẫu
như lễ Kỵ nhật Nàng Han (ngày giỗ bà nàng), lễ hầu đồng (với sự xuất hiện của
giá hầu Mẫu Han và bài văn chầu xếp bà vào dòng Mẫu Nhạc phủ) cùng các lễ
thường niên của đạo Phật (Đàn Dược sư cầu an đầu năm âm lịch, Đại lễ Phật Đản
vào mùng 8 tháng 4, Lễ Vu Lan báo hiếu vào Rằm tháng 7),..... Sự chuyển hóa từ
một nữ thần bản địa - một phi tạo mường
trời trong tín ngưỡng phi then truyền
thống của tộc người Thái - trở thành một biểu tượng mới trong hệ thống tôn giáo
quốc gia, với sự tích hợp xuyên văn hóa của Đạo Mẫu và Đạo Phật, đã đem đến một
sự gần gũi tự nhiên về mặt tình cảm tôn giáo cho các khách du lịch nội địa và
một thông điệp bản sắc phần nào dễ hiểu hơn cho khách du lịch quốc tế [24].
Điều này trên thực tế đã góp phần không nhỏ vào việc củng cố quyền uy của các
thiết chế xã hội và giúp gia tăng
niềm tin, niềm tự hào về sự bất tử của chủ nghĩa quốc gia - dân tộc.
*
* *
Kiến
tạo diện mạo một bản sắc chung là mục tiêu chính thức và lâu dài của các quốc
gia bao gồm nhiều nền văn hóa đa dạng. Điều này dẫn đến sự thôi thúc về việc
phải thiết lập các thiết chế nhằm phổ biến, truyền đạt và tái tạo cảm giác về
một "bản sắc chung", trong đó ngành du lịch di sản đóng vai trò quan
trọng. Có thể nói, thông qua một số khuôn mẫu về con người, địa điểm được lựa
chọn để tái tạo, để đại diện cho quá khứ của quốc gia, du lịch di sản đang tham
gia tích cực vào quá trình tạo dựng một huyền thoại về quốc gia đương đại.
Những
điều diễn ra tại quần thể di tích ở Quỳnh Nhai cho thấy một "quá trình tạo
lập liên tục" của văn hóa, với sự tham gia của các bên liên quan, xuất
phát từ nhu cầu, mục đích có thể rất khác biệt trong những tình huống cụ thể.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm ghi chép lại những cố gắng của các cá nhân
và tập thể trong quá trình đó, với nỗ lực tái tạo huyền thoại nhằm củng cố và
gia tăng tinh thần cố kết dân tộc, hướng đến mục tiêu phát triển chung của một
hoặc các nhóm cộng đồng.
CHÚ
THÍCH
[1]
Trung tâm huyện Quỳnh Nhai hiện tại cách thành phố Sơn La 55 km, và cách trung
tâm huyện cũ khoảng 30km, nơi hiện đã chìm dưới lòng hồ.
[2] Mi xấc Giẳng khướng póm xấc
Hán cờ đăm/Xau pay ma cướp khong phá tế dân bản (Theo văn bản "Tô Lang Nang Han Thái trắng Quỳnh
Nhai", tr.44 - bản chép tay của Nghệ nhân ưu tú Điêu Chính Minh tại
Quỳnh Nhai).
[3]
Đối chiếu với những gì Quam tô mương
(Chuyện kể bản mường) ghi chép thì giai đoạn này vào khoảng
thế kỉ XIV.
[4] Lễ hội Đua thuyền được huyện Quỳnh Nhai bắt
đầu tổ chức từ năm 2010, sau thời điểm di dân và chuyển huyện mới 1 năm. Đây
được xem là một nỗ lực lớn của huyện trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, nhằm
khơi dậy truyền thống đua thuyền có từ xa xưa của các bản làng sống ven sông Đà
và nhằm động viên, khích lệ hàng nghìn người dân Quỳnh Nhai sau công cuộc di
dân làm thủy điện. Trong lễ hội này, hàng trăm người ở khắp các địa bàn tái
định cư đã về thăm quê cũ, gặp lại người thân và dân bản cũ (Thông tin điền dã
2/2020, tháng 10/2020 tại Quỳnh Nhai).
[5] Dẫn theo "Kế hoạch Tổ chức khôi phục Miếu thờ Thần linh và Đền thờ Nàng Han huyện
Quỳnh Nhai", Quyết định số 48a/KH-UBND, Ủy ban Nhân dân huyện Quỳnh
Nhai ban hành ngày 23/10/2011.
[6]
Tư liệu điền dã tháng 10/2020.
[7]
Tư liệu điền dã Quỳnh Nhai, 4/2/2020.
[8]
Theo Đề án được Ủy ban nhân dân huyện Quỳnh Nhai phê duyệt tại Quyết định số
2947/QĐ-UBND ngày 12/12/2016, dự kiến đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, không
gian này sẽ còn được bổ sung thêm Đền thờ Bác Hồ, Nhà tưởng niệm các anh hùng
liệt sỹ, Nhà tưởng niệm bậc Tạo Thái, tạo Mường, khu Tam quan, Lầu chuông, Lầu
trống, Bảo Tháp, Chùa Thượng, Chùa Hạ, Chùa Trung cùng khu dịch vụ dành cho du
khách.
[9]
Tên gọi nơi thờ các thần (phi) đất,
thần sông thần núi, thần bản dựng mường.
[10]
Văn bản Biên soạn truyền thuyết Đền thờ
Linh Sơn Thủy Từ (dự thảo 2/2014). Tư liệu thu thập tại địa bàn. Tác giả
giữ nguyên cách diễn đạt đúng theo văn bản.
[11]
Chưa rõ thời điểm chính xác.
[12]
Tiếng Thái, dùng để chỉ các thần, ma hồn bản mường, thần chủ đất, thần chủ nước.
[13]
Thông tin trong Bảng giới thiệu Đền Linh Sơn Thủy Từ tại Quỳnh Nhai (Tư liệu
điền dã đợt tháng 10/2020).
[14] Pú chảu nghĩa là ông tổ, hoặc ông cụ,
người già. Trong cảnh huống ở đây, có thể hiểu là người ta đang nói về Cụ Hồ.
[15]
Tư liệu phỏng vấn ngày 02/02/2020 tại Quỳnh Nhai.
[16]
Tư liệu phỏng vấn ngày 02/02/2020 tại Quỳnh Nhai.
[17]
Theo sự hồi tưởng của người già tại bản Chẩu Quân, kể cả khi làm lễ thì dân bản
cũng không dám đụng chạm, phát quang tại rừng nàng Han mà chỉ dọn qua lối đi và
vén dây leo lên.
[18] Theo lệ tục, trước đây trong bản có người
chịu trách nhiệm lo việc cúng bản cúng mường - cúng tại tó tỉ thờ thần sông núi và tại rừng nàng Han.
[19] Ví dụ trong lễ Kin Pang Then, ở mâm lễ Then (pan cãi)
- mâm lễ bắc cầu cho thần Then và Tướng cả Nàng Han cùng các
tướng mạnh, tướng giỏi trên mường trời xuống giúp làm lễ, các mo Then bao giờ
cũng đặt 2 quả trứng gà lên một bát gạo rồi làm phép mời Nàng Ỏ (Nàng
Han) nhập xuống vào quả trứng để giúp mo Then trong việc bói đúng sai. Để bảo
vệ không cho ma dữ làm hại nàng Ỏ (pók khen ngốm Ỏ), một chiếc vòng tay
bạc được chụp vào quả trứng, hai chiếc răng nanh lợn rừng rụng (bùa thiêng)
được cắm cong chụm hai bên trứng, tạo thành vòng tròn vây quanh.
[20] Tư liệu phỏng vấn ngày 02/02/2020 tại Quỳnh
Nhai.
[21] Tư liệu phỏng vấn ngày 02/02/2020 tại Quỳnh
Nhai.
[22] Theo truyền thuyết ở Mường So, nơi nàng Han tắm gội trước khi bị quân
mai phục bắn chết là một mó nước cạnh làng Bát (có bản nói là bên bờ suối Tùng
Lùm, xã Khổng Lào). Từ đó, người dân địa phương gọi nơi này là mó nước nàng Han (bó nàng Han), hàng năm thường tổ chức
lễ gội đầu vào chiều 30 Tết bên mó nước để cầu xin sự phù trợ của Nàng. Sau này
khi dựng đền Nàng Han, chính quyền địa phương đã cho khơi thông, mở rộng mó nước,
kè đá xung quanh thành mô hình giếng tròn.
[23]
Tư liệu điền dã ngày 04/02/2020 tại Quỳnh Nhai.
[24]
Thông điệp có thể có được do "Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của
người Việt" đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật
thể đại diện của nhân loại vào ngày 01 tháng 12 năm 2016.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Anderson,
Benedict (1991, 2006), Imagined
Communities (2nd, 3nd
end). London: Verson.
Anderson,
Albert A. (2004), Mythos, Logos, and Telos: How to Regain the Love of
Wisdom,
in Anderson, Albert A.; Hicks, Steven V.; Witkowski, Lech (eds.), Mythos and Logos: How to Regain the Love of
Wisdom, Rodopi.
Ashworth,
Gregory J. (1994) 'From history to heritage: From heritage to identity: In
search of concepts and models'. In Gregory J. Ashworth & Peter J. Larkham
eds. Building a New Heritage. Tourism, culture and identity in the new Europe,
pp. 13-30. London: Routledge.
Nguyễn
Văn Chính (2019), "Công dân toàn cầu và câu chuyện bản sắc văn hóa",
Tạp chí Tia sáng, nguồn:
https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Cong-dan-toan-cau-va-cau-chuyen-ban-sac-van-hoa,
ngày đăng 09/02/2019, ngày truy cập 14/8/2020.
Evans,
Grant (2001). Tourism and minorities. In Vietnam's
cultural diversity: approaches to preservation (edited by Oscar Salemink).
Published by United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization,
Paris, pp.277-280.
Phan
Thu Hiền (2006), "Huyền thoại học và văn hóa học", bài viết tham dự
Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo bậc
sau đại học chuyên ngành Văn hóa học, Nguồn: http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/cac-binh-dien-cua-van-hoa/47-phan-thu-hien-huyen-thoai-hoc-va-van-hoa-hoc.html, ngày đăng 29/11/2007,
ngày truy cập 15/8/2020.
Hechter,
M. (2000), Containing Nationalism, Oxford
University Press.
Trần
Hiền (2020), "Sơn La: Trải nghiệm du lịch lòng hồ sông Đà Quỳnh
Nhai", nguồn http://www.vietnamtourism.gov.vn, đăng ngày 12/12/2020, truy
cập ngày 15/9/2020.
Pageaux,
Daniel-Henri (1994), "Huyền thoại" (Chương sách thứ 6, Nguyễn Thị
Thanh Xuân lược dịch), in trong Văn học
tổng quát và văn học so sánh (La
littérature générale et comparé), Armand
Colin, Paris, 1994. Nguồn: https://phebinhvanhoc.com.vn/huyen-thoai/, ngày đăng: 29/6/2013,
ngày truy cập: 20/9/2020.
Johnson,
N. (1995), Cast in Stone: Monuments, Geography and Nationalism, Environment and Planning, D: Society and
Space 13:51-65.
Lanfant,
Marie-Francoise (1995), Introduction.In Marie-Francoise Lanfant, John B.
Allcock and Edward M.Bruner eds. International
Tourism: Identity and Change, pp.1-23. London: Sage
Lenoir,
T., and C.Ross (1996), The Naturalized History Museum, in The Disunity of Science: Bound-aries,
Contexts, and Power, P.Galison and D.Stump, eds., pp.370-397. Stan-ford CA:
Stanford Univerity Press.
Micheal
Pretes (2003), Tourism and Nationlism, Annals
of Tourism Research, Vol. 30, No. 1, pp. 125–142.
Nairn,
T. (1977), The Break-Up of Britain:
Crisis and Neo-Nationalism, London:New Left Books.
Nhiều
tác giả (2014), Di sản văn hóa trong xã
hội Việt Nam đương đại, Nxb Tri thức, Hà Nội.
Pérez-Aranda,
Javier R. , Manuela Guerreiro, Julio Mendes (2015), "Are myths and legends
used in tourism communication as a resource? The case of Algarve online
Brochures", in Enlightening Tourism.
A Pathmaking Journal, Vol. 5, No 1 (2015), pp.65-99.
Palmer,
Catherine. (1999), "Tourism and the Symbols of Identity", in Tourism Management, 20 (3): 313- 322.
Bản trích trên academia.edu, pp.1-27.
Mỹ
Phượng (2017), "Quên Mộc Châu đi, Sơn La còn có một Quỳnh Nhai lung linh
như thế", nguồn mytour.vn, ngày đăng 25/4/2017, ngày truy cập 18/9/2020.
Renan,
Ernest (1990), "What is a nation?" (Original lecture given in Paris
1882), in Homi K.Bhabha (ed.), Nation and
Narration, pp.8-22. Routledge, London.
Selwyn,
Tom ed. (1996) The Tourist Image. Myths
and Myth Making in Tourism. Chichester: Wiley.
Smith,
Anthony D. (1986), The Ethnic Origin of Nations, Basil Blackwell, Oxford.
Smith,
Anthony D. (1991), National Identity. London:
Penguin.
Ngô
Đức Thịnh, Frank Proschan (eds.) (2005). Folklore
- Một số thuật ngữ đương đại. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội.
Wash,
Kevin (1990), The Representation of the
Past: museums and heritage in the post-modern world. London: Routledge.
TS.
Phạm Đặng Xuân Hương - TS. Đỗ Thị Thu Hà