Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, hiếm có sự kiện chính trị nào lại sở hữu sức ảnh hưởng sâu rộng và khả năng thẩm thấu mãnh liệt vào đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân như khoảnh khắc khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - ngày 2/9/1945. Sự kiện này không chỉ là một mốc son đánh dấu sự thay đổi chế độ chính trị và vận mệnh dân tộc, mà còn vượt lên trên tầm vóc của một sự kiện lịch sử thông thường để trở thành một hiện tượng văn hóa đặc biệt mang tên “Tết Độc lập”. Khái niệm này biểu trưng cho một không gian kỷ niệm và thực hành văn hóa đa dạng của các tộc người trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ở một góc độ nhất định, “Tết Độc lập” là sự dung hợp giữa những giá trị chính trị hiện đại và nền tảng văn hóa truyền thống của cư dân nông nghiệp lúa nước, một minh chứng cho năng lực sáng tạo không ngừng nghỉ của quần chúng nhân dân trong việc tôn vinh các giá trị thế tục của nước Việt Nam mới.

Sự ra đời
của “Tết Độc lập”
Vào những
ngày cuối tháng 8 và đầu tháng 9 năm 1945, bối cảnh địa chính trị trên toàn cầu
đang chứng kiến những chuyển biến to lớn, với sự sụp đổ của chủ nghĩa phát xít
trước đà tiến công mạnh mẽ của phe Đồng minh. Chiến tranh thế giới thứ hai đi đến
hồi kết, làm lung lay hệ thống thuộc địa của các cường quốc đế quốc và tạo ra
thời cơ lịch sử thuận lợi để các dân tộc thuộc địa vùng lên đấu tranh giành độc
lập. Chớp lấy thời cơ đó, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạt tới đỉnh cao chói
lọi với thắng lợi toàn diện của cuộc Tổng khởi nghĩa, chấm dứt ách áp bức, bóc
lột kéo dài gần một thế kỷ của thực dân Pháp, xóa bỏ chế độ phong kiến tồn tại
hàng nghìn năm và đập tan ách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật, đưa dân tộc
Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Sáng ngày 2/9/1945, tại Quảng trường
Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng
tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thể thế giới về sự ra đời của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa - một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Chính từ
khoảnh khắc thiêng liêng mang tính bước ngoặt ấy, thuật ngữ “Tết Độc lập” bắt đầu
hình thành trong đời sống tinh thần của dân tộc, trở thành một cách gọi sinh động,
gần gũi và dễ nhớ để nhân dân ghi dấu, tôn vinh và kỷ niệm ngày đất nước giành
lại nền độc lập.
Ban đầu,
“Tết Độc lập” được hiểu theo nghĩa trực tiếp và giản dị nhất: đó là cái Tết đầu
tiên của một dân tộc vừa giành lại được nền độc lập, được đón Tết trong không
khí của một đất nước có chủ quyền và một chế độ mới. Cách hiểu này cũng gắn liền
với việc xác định “Tết Độc lập đầu tiên” trong lịch sử hiện đại Việt Nam là cái
Tết diễn ra ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này dường như có liên quan đến nội dung của bài “Tết”
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu Quốc số 147, ngày 21/1/1946, trong đó
có đoạn:
“…Tết
xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”.
Trong nhiều
tài liệu, Tết Bính Tuất năm 1946 cũng hay được xem là “Tết Độc lập” đầu tiên -
một cái Tết đặc biệt, khi niềm vui đón năm mới hòa quyện với niềm vui của một
dân tộc lần đầu tiên được đón Tết trong tư thế của một quốc gia độc lập (Trần Tường
Vân và Nguyễn Quang Ân, 1997: 49; Hoàng Như Mai, 1998: 229). Cái Tết cổ truyền
diễn ra vào 80 năm trước được đồng chí Tố Hữu ghi lại qua bài thơ “Xuân nhân loại”:
“Ðây một mùa xuân tới
tới gần
Ðây mùa bất tuyệt của
muôn xuân
Hương tình nhân loại
bay man mác
Gió bốn phương truyền
vang ý Dân…”
Việc mùa
xuân Bính Tuất năm 1946 được gọi là “mùa bất tuyệt của muôn xuân” đã nói lên
khát vọng xuân của loài người là vươn tới một cuộc sống mới, một cuộc sống
trong độc lập, tự do. Mùa xuân ấy là thời điểm mà người dân Việt Nam hết sức hứng
khởi khi nói về những sự kiện lịch sử vĩ đại vừa trải qua: Cách mạng Tháng Tám,
Tuyên ngôn Ðộc lập và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tổng
tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nền dân chủ mới.
Trong
không khí phấn khởi ấy, Tết Bính Tuất năm 1946 còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi
là “Tết Dân quyền”, qua đôi câu đối Bác tặng các chiến sĩ cảnh vệ, cán bộ giúp
việc:
“Rượu Hòa bình, hoa
Bình đẳng, mừng Xuân Độc lập
Bánh Tự do, giò Bác ái,
ăn Tết Dân quyền.”
Trên Báo
Quốc gia số đặc biệt đón giao thừa Tết Bính Tuất năm 1946, Bác còn khẳng định:
“Tết này mới thật Tết dân ta”.
Cùng với
“Tết Độc lập”, một khái niệm mới về Tết cũng dần hình thành từ những năm tháng
đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, đó là “Tết kháng chiến”. Đó là cái
Tết đầu tiên sau ngày toàn quốc kháng chiến, với “Tết kháng chiến đầu tiên” chính
là Tết Đinh Hợi năm 1947. Trong những ngày này, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, nhân dân miền Bắc gửi bánh chưng, bánh dầy, thuốc lá, thuốc lào
cùng những tấm áo “mùa đông binh sĩ” tới các chiến sĩ đang anh dũng chiến đấu
ngoài tiền tuyến.
Ngoài ra,
còn phải kể đến “Tết hòa bình” - một thuật ngữ chỉ đến hai cái Tết diễn ra vào
hai thời điểm khác nhau. Cái Tết đầu tiên là Tết Quý Sửu năm 1973, một thời điểm
có ý nghĩa lớn lao đối với nhân dân miền Bắc sau chín năm trải qua cuộc chiến
tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Tết Quý Sửu năm ấy
diễn ra trong bối cảnh Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa
bình ở Việt Nam vừa được ký kết, mở ra một bước ngoặt quan trọng trên con đường
tiến tới chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình và thống nhất đất nước. Cái Tết
thứ hai là Tết Bính Thìn năm 1976, là cái Tết đầu tiên sau Đại thắng mùa Xuân
1975, khi đất nước thống nhất, Bắc - Nam sum họp, không còn chiến tranh.
Tuy nhiên,
tại sao và từ khi nào mà ngày Quốc khánh 2/9 hằng năm còn được gọi là Tết Độc lập?
Theo các
tác giả của cuốn Từ điển Việt Nam văn hóa tín ngưỡng phong tục, khi đưa
ra khái niệm “Tết Độc lập” là “… lễ tết kỉ niệm ngày độc lập, tức là
ngày mùng 2 tháng chín năm 1945 , ngày mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc
lập”, đã cho biết thêm rằng “Tết Độc lập lần đầu tiên được tổ chức vào
ngày 2-9-1946 tại các khu dân cư - hành chính của đất nước; sau đó thành lệ”
(Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, 2005: 369-370). Tuy việc xác định Tết Độc lập
đầu tiên ở đây khác với các tài liệu khác, nhưng ít nhất, nó cho biết thông lệ
tổ chức kỷ niệm lễ Quốc khánh như một ngày hội lễ đã có từ giữa thế kỷ XX.
Theo nhà
sử học Dương Trung Quốc (2016), việc “Tết Độc lập” ban đầu chỉ cái Tết Nguyên
đán Bính Tuất 1946, đã được nhân dân dùng để gọi ngày 2/9 hằng năm là cho thấy
sự thay đổi về nhận thức và ý thức thời đại của người Việt Nam. Sở dĩ có sự
chuyển nghĩa ấy là vì theo cách gọi cổ truyền, chữ “Tết” vốn là biến âm của chữ
“tiết” (Hán tự), chỉ những mốc thời gian lặp lại trong năm mang ý nghĩa tâm
linh, tín ngưỡng hoặc vận mệnh cộng đồng. Giống như Tết Trung thu, Tết Đoan ngọ
hay Tết Hàn thực, ngày 2/9 được dân gian nâng lên thành “Tết Độc lập” theo
nghĩa một sự kiện có ý nghĩa như cái mốc mở ra điều tốt đẹp cho cả dân tộc.
Cách lý
giải trên có lẽ chưa giải thích đầy đủ được quá trình chuyển nghĩa của khái niệm
“Tết Độc lập”. Nhưng ít nhất, nó gợi ra sự chú ý đến khía cạnh tâm lý, tình cảm
của nhân dân Việt Nam - chủ thể của độc lập, tự do, đồng thời cũng là chủ thể của
văn hóa. Ở đây, có thể lưu ý đến ba điểm:
Thứ nhất, “Tết Độc lập” trước hết
không phải là một thuật ngữ hành chính được đặt ra để gọi Quốc khánh. Đây là một
cách gọi mang tính xã hội và văn hóa, được hình thành trong quá trình nhân dân
ta tiếp nhận, gắn bó ngày Quốc khánh với những tình cảm thiêng liêng, những ký ức
lịch sử hào hùng về ngày dân tộc ta giành được độc lập, tự do.
Thứ
hai, văn
hóa Việt Nam vốn có xu hướng bình dân hóa, giản dị hóa những cái mang tính
chính thống, khuôn phép (một cơ chế có thể gọi là “dân gian hóa”). Khi một sự kiện
lịch sử trọng đại được thừa nhận bằng tình cảm tự nhiên, chân thành của toàn
dân, ngôn ngữ đời thường thường tìm đến những cách gọi thân mật, gần gũi, dễ đi
vào lòng người hơn.
Thứ ba, đi sâu vào khía cạnh
văn hóa, thì trong hệ tọa độ tâm thức của cư dân nông nghiệp lúa nước, Tết
không thuần túy là sự chuyển giao cơ học của các chu kỳ thời gian hay tiết khí
tự nhiên, mà nó còn bao hàm ý niệm sâu sắc về sự tái sinh, sự giao hòa thiêng
liêng giữa thiên nhiên và con người, giữa cõi âm và cõi dương, giữa những ký ức
quá khứ và khát vọng hiện đại. Do đó, mốc son chói lọi ngày 2/9/1945 phần nào đó
tương thích, trùng khớp với nguyên lý nền tảng của khái niệm Tết - tức là sự
khép lại một chu kỳ cũ của áp bức, nô lệ, khởi tạo một kỷ nguyên mới chan chứa
hy vọng, niềm tin và khát vọng về một tương lai tươi sáng, độc lập, tự do và hạnh
phúc cho dân tộc.
Văn hóa
mừng “Tết Độc lập”
Ngày nay,
trên khắp vùng miền cả nước từ miền xuôi đến miền ngược, từ nông thôn đến đô thị,
từ đất liền ra hải đảo, ngày Quốc khánh 2/9 hay Tết Độc lập là dịp diễn ra nhiều
hoạt động văn hóa, chính trị và cộng đồng sôi nổi, tạo nên một không khí lễ hội
đặc biệt trên cả nước.
Người Việt
vốn có 12 Tết cổ truyền, trong đó có 2 Tết còn phổ biến khắp cả nước là Tết
Nguyên Đán và Tết Trung Thu. Những cái Tết còn lại thì tùy từng địa phương,
vùng miền mà mức độ quan trọng và đa dạng của các hoạt động có thay đổi. Mặc dù
khái niệm “Tết độc lập” đã có từ giữa thế kỷ XX, nhưng nhiều tài liệu khẳng định
rằng các sinh hoạt văn hóa - nghệ thuật mừng Tết Độc lập trở nên phổ biến nhất
là từ sau ngày đất nước thống nhất. Nói cách khác, Tết Độc lập là một trong số
các ngày Tết mới, đã và đang hòa nhập vào hệ thống các ngày lễ tết với quy mô tổ
chức rộng khắp.
Ở vùng đồng
bằng và đô thị, đặc biệt tại Thủ đô Hà Nội - trái tim của cả nước, không khí mừng
Tết Độc lập qua các năm luôn trang nghiêm, rộn ràng. Vào những ngày trước 2/9, đường
phố đã rực rỡ cờ đỏ sao vàng, băng rôn, khẩu hiệu ca ngợi Đảng, Bác Hồ và thành
quả cách mạng. Tại Hà Nội, hằng năm, lễ kỷ niệm trọng thể tại Quảng trường Ba
Đình, các hoạt động dâng hương tưởng niệm, triển lãm lịch sử, chương trình nghệ
thuật lớn cùng các hoạt động văn hóa-thể thao quần chúng thu hút đông đảo nhân
dân tham gia. Tại các không gian công cộng lớn như khu vực vườn hoa Đền Bà Kiệu
(phường Hoàn Kiếm), Công viên Thống Nhất, Vườn hoa Lạc Long Quân, quảng trường
sân vận động Mỹ Đình… thường xuyên tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân trong những
ngày trước và trong dịp Quốc khánh. Các chương trình được dàn dựng công phu, kết
hợp nghệ thuật truyền thống với hiện đại, tập trung ca ngợi Đảng Cộng sản Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, truyền thống hào hùng của Cách mạng Tháng Tám và Quốc
khánh 2/9. Đặc biệt, tối ngày 2/9, bầu trời Thủ đô thường rực sáng với chương trình
bắn pháo hoa nghệ thuật tại nhiều trận địa trọng điểm, thu hút hàng vạn người
dân và du khách tham dự, tạo không khí vui tươi, phấn khởi. Ngoài ra, các
chương trình nghệ thuật cũng được đưa về nhiều xã, phường ngoại thành, tạo điều
kiện để đông đảo người dân được hưởng thụ văn hóa ngay tại địa phương. Ở các
khu dân cư, ngoài việc treo cờ, dọn dẹp đường làng ngõ xóm, nhiều nơi còn tổ chức
mít tinh, liên hoan văn nghệ, thể thao, thăm hỏi gia đình chính sách, thể hiện
tinh thần tương thân tương ái và sự gắn kết trong ngày hội lớn của dân tộc.
Từ đồng bằng,
văn hóa mừng Tết Độc lập lan tỏa mạnh mẽ đến các vùng miền núi và đồng bào dân
tộc thiểu số. Ở nhiều nơi, đồng bào các dân tộc đã xem Tết Độc lập như một “Tết”
thực sự, tổ chức trang trọng, vui vẻ không kém các ngày hội lễ truyền thống của
họ. Đơn cử, tại miền núi và trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ, đồng bào Thái, H’Mông,
Mường, Tày, Nùng, Dao… từ lâu đã duy trì truyền thống “ăn Tết Độc lập” rất to. Đến
ngày này, tập quán thường thấy ở nhiều bản làng là mổ trâu bò và uống rượu. Các
liên hoan văn nghệ, ngày hội văn hóa, ngày hội ẩm thực... được tổ chức tại nhiều
địa điểm văn hóa có sự tham gia của đông đảo các thành phần dân tộc, các cơ
quan, tổ chức và nhân dân. Đây là một trong những biểu hiện góp phần cho thấy đồng
bào các dân tộc ngày nay đã tiếp thu các yếu tố văn hóa quốc gia, thể hiện mối
quan hệ khăng khít quốc gia - dân tộc (Lý Cẩm Tú và Lý Hành Sơn, 2023).
Ở Mộc Châu
thuộc tỉnh Sơn La cũ, hằng năm vào dịp cuối tháng 8 đầu tháng 9 Dương lịch, Tết
Độc lập được tổ chức như một lễ hội văn hóa các dân tộc của cả vùng. Sự kiện được
tổ chức tại thị trấn Mộc Châu, mang đậm bản sắc dân tộc, thu hút đông đảo các
dân tộc anh em và hàng vạn du khách bốn phương. Vào dịp này cũng diễn ra chợ
tình Mộc Châu họp mỗi năm một lần vào đêm 31/8 hoặc 1/9. Nhiều thế hệ thanh niên gặp
nhau ở phiên chợ tình đã nên vợ nên chồng, cũng có những mối tình không dẫn đến
hôn nhân, nhưng họ vẫn giữ mối quan hệ bạn bè tốt đẹp. Mỗi năm, họ gặp lại nhau
một lần vào đêm chợ tình để thăm hỏi, động viên nhau. Theo Nguyễn Thị Nguyệt (2012),
sự giao lưu văn hóa được thể hiện rõ nét và sống động qua Tết Độc lập của các
dân tộc nơi đây. Cứ vào dịp này, bà con đồng bào ở các bản, các xã vùng cao Mộc
Châu và ở nhiều tỉnh khác lại hối hả đổ về cao nguyên Mộc Châu để gặp gỡ, giao
lưu. Thế rồi dần dần, đây không chỉ là nét văn hóa riêng có của dân tộc ở Mộc
Châu, mà còn là dịp để đồng bào các dân tộc từ nơi khác, vùng miền khác về đây
tụ họp (tr. 42, 45).
Ở Nghệ
An, dân tộc Thái có những tập quán tín ngưỡng phổ biến như thờ cúng tổ tiên, ngày
Tết âm lịch, ngày Tết độc lập, thắp hương, rượu, những ông bà đã khuất, những lực
lượng bảo vệ con cháu thế hệ đang sống. Từ nhiều thập niên trước, người Thái vùng
Quỳ Châu đã thường ăn và cúng to nhất là Tết Âm lịch, Tết Độc lập ngày 2/9 hằng
năm. Hình thức tổ chức là đánh cồng chiêng, ném còn, nhảy sạp, giã gạo, uống rượu
cần, kéo co... (Lương Chiến Thắng, 1998: 343).
Tại khu vực
miền Trung và miền Nam, một số cộng đồng dân tộc thiểu số cũng “ăn Tết Độc lập”
rất to theo điều kiện và khả năng của họ. Trên mảnh đất Tây Nguyên giàu truyền
thống cách mạng và bản sắc văn hóa, ngày Quốc khánh 2/9 đã trở thành dịp hội lớn
ý nghĩa của cộng đồng các dân tộc anh em. Tuy các dân tộc bản địa vẫn giữ gìn
và phát huy các lễ hội truyền thống theo nông lịch như Tết cơm mới, mừng lúa mới,
cúng bến nước, song họ cũng tiếp nhận Tết Độc lập với không khí phấn khởi, lan
tỏa khắp buôn làng, nhà rông, nhà dài từ Gia Lai, Đắk Lắk đến Lâm Đồng. Các dân
tộc thiểu số tụ tập lại trong những lễ hội đặc sắc, cùng nhau diễu hành, hát,
múa, thể hiện các nét văn hóa truyền thống độc đáo tái hiện các lễ hội như: mừng
lúa mới, cúng đầu năm... Khi tiếng chiêng vang lên, trong các bộ trang phục
truyền thống, các dân tộc gặp gỡ, giao lưu, cùng phục vụ người dân và du khách
nhiều tiết mục mang đậm dấu ấn văn hóa của mình. Hiện nay, những hoạt động văn
hóa - văn nghệ diễn ra trong dịp Lễ Quốc khánh 2/9 rất đa dạng, song cũng rất
trẻ trung, phù hợp với nhiều lứa tuổi để du khách trải nghiệm, hòa nhập với văn
hóa địa phương.
Người Nguồn
ở huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng cũ di cư từ huyện Minh Hóa (Quảng Bình cũ) vào
huyện Đạ Huoai sớm nhất là từ năm 1989. Khi đến nơi ở mới, họ vẫn duy trì các lễ
tục truyền thống, bao gồm thờ cúng gia tiên chủ yếu vào các dịp lễ tết: Tết
Nguyên đán, Tết Độc lập 2/9 và các dịp giỗ của gia tiên. Tết Độc lập là cái Tết
to của người Nguồn sau Tết Nguyên đán. Hôm đó, người ta có thể mổ lợn làm cồ
cúng cụ Hồ và gia tiên. “Người Nguồn coi cụ Hồ là người khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, có cụ Hồ thì người Nguồn mới có cuộc sống như ngày hôm
nay” (Nguyễn Thị Yên, 2012: 42).
*
* *
Mừng Tết
Độc lập là một nét đẹp văn hóa, thể hiện sâu sắc lòng yêu nước, niềm tự hào
dân tộc và sự trân trọng của các thế hệ người Việt Nam đối với giá trị của độc
lập, tự do. Từ mùa thu lịch sử năm 1945, ngày Quốc khánh 2/9 đã trở thành dấu mốc
thiêng liêng trong lịch sử dân tộc, nhắc nhở mỗi người về những hy sinh, mất
mát của các thế hệ cha anh đã đấu tranh vì độc lập, chủ quyền và thống nhất đất
nước.
Trong đời
sống hôm nay, những hoạt động mừng Tết Độc lập không chỉ góp phần tạo không
khí vui tươi, phấn khởi trong toàn xã hội mà còn là dịp để bồi đắp lòng tự hào
dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giáo dục truyền thống cách mạng
và nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi mùa “Tết Độc lập” là một lần chúng ta
cùng nhìn lại lịch sử, trân trọng hiện tại và hướng tới tương lai./.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Vũ Ngọc
Khánh, Phạm Minh Thảo (2005), Từ điển Việt Nam văn hóa tín ngưỡng phong tục,
Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Hoàng Như
Mai (1998), Tìm hiểu bản sắc dân tộc trong thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội.
Nguyễn Thị
Nguyệt (2012), “Văn hóa và giao lưu văn hóa trong sự phát triển giữa các dân tộc
ở huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La”, Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 6 (144), tr.
35-46.
Dương
Trung Quốc (2016), Tại sao có tên gọi “Tết Độc Lập” trong Lễ Quốc khánh 2/9?, https://kienthuc.net.vn/tai-sao-co-ten-goi-tet-doc-lap-trong-le-quoc-khanh-29-post174090.html
Lương Chiến
Thắng (1998), “Vài nét về người Thái ở Quỳ Châu Nghệ An”, in trong Chương trình
Thái học Việt Nam, Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa
dân tộc, Hà Nội, tr. 332-346.
Lý Cẩm Tú,
Lý Hành Sơn (2023), “Quan hệ giữa người dân các dân tộc với quốc gia - dân tộc ở
vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc hiện nay”, Tạp chí Dân tộc học, Số
4, tr. 85-95.
Trần Tường
Vân, Nguyễn Quang Ân (1997), Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp
1945-1954: Những sự kiện, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Nguyễn Thị
Yên (2012), “Văn hóa người Nguồn ở huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng”, Tạp chí Văn
hóa dân gian, Số 4 (142), tr. 36-45.
Chi
đoàn Viện Nghiên cứu Văn hóa