Tết Trung thu Việt Nam qua một số giai đoạn lịch sử: Từ lễ tiết truyền thống đến di sản văn hóa trong xã hội đương đại
Tết Trung thu bắt nguồn từ xã hội nông nghiệp lúa nước và gắn với những mùa vụ, tín ngưỡng dân gian và các giá trị gia đình, cộng đồng. Nhìn từ một số giai đoạn lịch sử, đặc biệt từ 1954–1975 đến thời kỳ Đổi mới và hội nhập, có thể thấy Tết Trung thu liên tục biến đổi về hình thức và chức năng dưới tác động của bối cảnh chính trị – xã hội và chính sách văn hóa. Từ sinh hoạt dân gian, Trung thu từng mang chức năng giáo dục, tuyên truyền, rồi trở thành đối tượng bảo tồn di sản. Ngày nay, sức sống của lễ hội được duy trì nhờ khả năng thích ứng và vai trò chủ thể của cộng đồng.

Trong sinh hoạt cộng đồng, Tết Trung thu vừa là ngày hội cho trẻ em, vừa là hội mùa của người lớn.
Nguồn: Hình minh họa tạo bởi công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI)
Tết Trung thu, diễn ra vào
Rằm tháng Tám âm lịch, từ lâu đã giữ một vị trí đáng kể trong đời sống văn hóa
của người Việt. Hình thành trên nền tảng của xã hội nông nghiệp lúa nước, lễ hội
ban đầu gắn với nhịp điệu mùa vụ, các quan niệm dân gian về rồng và mặt trăng,
đồng thời hàm chứa những giá trị liên quan đến giáo dục, gia đình và cộng đồng.
Theo thời gian, ý nghĩa của Tết Trung thu ngày càng được mở rộng. Bên cạnh những
sinh hoạt quen thuộc như thưởng nguyệt, phá cỗ hay vui chơi dành cho trẻ em, Tết
Trung thu còn trở thành một không gian văn hóa phản ánh những biến đổi trong đời
sống xã hội cũng như cách cộng đồng diễn giải và duy trì các giá trị truyền thống.
Trong lịch sử Việt Nam hiện
đại, đặc biệt từ giai đoạn đất nước bị chia cắt trong những năm 1954–1975 cho đến
thời kỳ Đổi mới và hội nhập, Tết Trung thu đã trải qua nhiều biến đổi cả về
hình thức tổ chức lẫn chức năng xã hội. Dưới tác động của các thiết chế quản lý
văn hóa và những điều kiện chính trị – xã hội khác nhau, một số thực hành truyền
thống tiếp tục được duy trì, trong khi nhiều nội dung và ý nghĩa mới cũng được
bổ sung. Ở từng giai đoạn, Trung thu có thể được sử dụng như một phương tiện
giáo dục, tuyên truyền, tổ chức sinh hoạt tập thể, đồng thời về sau trở thành đối
tượng của các hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể. Những
chuyển biến này cho thấy lễ hội không tồn tại như một thực hành bất biến mà
luôn được điều chỉnh để phù hợp với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Từ góc độ đó, sự biến đổi
của Tết Trung thu phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa đời sống văn hóa dân gian,
thực hành trong cộng đồng và cơ chế quản lý của nhà nước. Chính sách văn hóa có
thể làm thay đổi cách thức tổ chức, phạm vi hoạt động hoặc cách diễn giải ý
nghĩa của lễ hội, nhưng khả năng duy trì lâu dài của Trung thu vẫn gắn trước hết
với sự tham gia của cộng đồng. Việc các thế hệ liên tục tiếp nhận, điều chỉnh
và tái tạo những thực hành truyền thống đã giúp lễ hội thích ứng với những biến
chuyển của xã hội mà không hoàn toàn đánh mất các giá trị vốn có.
Sự biến đổi của Tết Trung
thu ở Việt Nam diễn ra liên tục qua nhiều giai đoạn lịch sử, từ những thực hành
gắn với tri thức nông nghiệp và tín ngưỡng dân gian đến sự điều chỉnh về chức
năng trong các bối cảnh chính trị – xã hội khác nhau, rồi từng bước được nhìn
nhận trong khuôn khổ bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở thời kỳ đương đại.
Quá trình này cho thấy Tết Trung thu không phải là một thực hành văn hóa bất biến
mà luôn có khả năng thích ứng trước những biến chuyển của xã hội. Tuy nhiên, sự
tiếp nối của lễ hội không chỉ phụ thuộc vào các thiết chế quản lý hay chính
sách văn hóa, mà còn gắn chặt với vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc gìn
giữ, trao truyền và tái tạo những giá trị văn hóa qua các thế hệ.
Nguồn gốc và phong tục đón
Tết Trung thu trong đời sống văn hóa của người Việt
Mối liên hệ với nền văn
minh lúa nước
Tết Trung thu trong đời sống
truyền thống của người Việt có mối liên hệ mật thiết với phương thức sản xuất
nông nghiệp lúa nước. Rằm tháng Tám âm lịch rơi vào khoảng giữa mùa thu, thời
điểm việc gieo trồng vụ hè – thu đã hoàn tất nhưng mùa thu hoạch vẫn chưa bắt đầu.
Khoảng thời gian thư nhàn này giúp người nông dân nghỉ ngơi sau những ngày lao
động nặng nhọc, đồng thời thưởng ngoạn tiết trời dịu mát và ngắm trăng vào thời
điểm tròn, sáng nhất trong năm. Trong môi trường nông nghiệp, tục ngắm trăng
không chỉ mang ý nghĩa thưởng ngoạn mà còn gắn với hệ thống tri thức dân gian về
dự đoán thời tiết, mùa vụ thông qua việc quan sát độ sáng, độ mờ hay sắc thái mặt
trăng. Tri thức ấy kết tinh qua các câu ca dao như “Muốn ăn lúa tháng Tám /
Trông trăng rằm tháng Tám”, “Trăng mờ tốt lúa đỏ / Trăng tỏ tốt lúa trắng”, hay
“Tỏ trăng mười bốn được tằm / Đục trăng hôm rằm thì được lúa chiêm”. Như vậy, mặt
trăng vừa là biểu tượng thẩm mỹ vừa là đối tượng quan sát phục vụ sản xuất và
khả năng thích ứng của cư dân nông nghiệp.
Tết Trung thu trong hệ thống
tín ngưỡng dân gian và điển tích truyền thuyết
Nghệ thuật và tín ngưỡng
đêm Rằm tháng Tám ghi nhận tư tưởng tôn vinh loài rồng như một nét chủ đạo từ
thời tối thượng cổ (Nguyễn Văn Huyên, 1942/2023). Rồng giữ vai trò đấng bảo trợ
điều tiết mưa nắng, giúp mùa màng bội thu và bảo vệ vụ thu hoạch tháng Mười, thể
hiện qua các đoàn rước rồng mang biểu ngữ "Hoàng Long thịnh thế" hay
"Thiên hạ thái bình", kết hợp cùng điệu múa sư tử rộn rã chúc mừng sự
thịnh vượng. Bên cạnh rồng, mặt trăng được tôn vinh như biểu tượng phồn thực bảo
trợ cho sự sinh sôi qua các hình tượng dân gian như Thiềm Thừ (cóc ba chân), thỏ
ngọc, hay các vị thần nắm giữ duyên nợ như Nguyệt Lão và Nguyệt Bà.
Bên cạnh nền tảng lao động
sản xuất, các tập tục Trung thu còn được bồi đắp thông qua hệ thống truyền thuyết,
giai thoại. Phan Kế Bính (1995) ghi nhận tục treo đèn, bày cỗ gắn với truyền
thuyết ngày sinh vua Đường Minh Hoàng thời nhà Đường, vốn được tiếp nhận và biến
đổi thành sinh hoạt thưởng nguyệt của người Việt. Tục rước đèn cá chép xuất
phát từ điển tích thời vua Tống Nhân Tông và Bao Công làm đèn hình cá chép để
trừ tà, tuy nhiên, ý nghĩa tâm linh đã dần phai nhạt và trở thành đồ chơi đặc trưng cho trẻ
em sau này. Tương tự, tục hát trống quân được dân gian gắn với giai thoại Hoàng đế
Quang Trung Nguyễn Huệ cho quân sĩ hát đối đáp trên đường hành quân ra Bắc để
nguôi nỗi nhớ quê nhà. Các lớp diễn giải này cho thấy phong tục Trung thu được
liên tục bồi đắp bởi ký ức cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Biểu hiện văn hóa qua những
hoạt động đón Tết Trung thu
Trong sinh hoạt cộng đồng,
Tết Trung thu vừa là ngày hội cho trẻ em, vừa là hội mùa của người lớn. Nếu Tết
Nguyên Đán được hình dung như “tết hoa” của mùa xuân thì Trung thu được xem là
“tết quả” của mùa thu, đánh dấu thời điểm các sản vật bước vào độ chín và đời sống
nông nghiệp hướng dần tới mùa thu hoạch (Lê Trung Vũ, 1987). Song song với việc
người lớn thưởng trà và ngắm cảnh, trẻ em được tham gia rước đèn, phá cỗ và trải
nghiệm các trò vui do cộng đồng tổ chức, qua đó duy trì phương thức trao truyền
kinh nghiệm văn hóa giữa các thế hệ. Trên phương diện xã hội, lễ hội thể hiện sự
quan tâm của thế hệ đi trước đối với thế hệ kế tiếp qua quan niệm “tre già măng
mọc”, góp phần củng cố tình cảm gia đình, khẳng định trách nhiệm của bậc trưởng
thượng và tăng cường liên kết làng xã. Do đó, tính chất hội mùa luôn đan xen chặt
chẽ với chức năng giáo dục và tái tạo các chuẩn mực đạo đức cộng đồng.
Theo Nguyễn Văn Huyên
(1942/2023), Trung thu còn từng là “lễ hội của dạm hỏi” dành cho thanh niên.
Đêm Rằm, nam nữ tụ họp thành từng nhóm vừa hát đối vừa ngắm trăng, tham gia các
cuộc thi văn chương và ca hát thơ mộng để tìm hiểu nhau, trao nhau quạt, chiếc
vòng và miếng trầu giao ước dưới sự chứng giám của vầng trăng. Những đêm hát
huê tình này chính là khởi đầu cho các mối duyên lành và những đám cưới được tổ
chức vào mùa xuân năm sau. Trong các đại gia đình quyền quý, Trung thu là môi
trường giáo dưỡng và trổ tài nữ công gia chánh của thiếu nữ. Dưới sự chỉ dẫn của
người mẹ, các cô gái chuẩn bị từ trước 2–3 tháng để chuẩn bị và trang trí mâm cỗ.
Sinh hoạt này vừa rèn luyện sự khéo léo cho thiếu nữ, vừa là dịp để gia đình giới
thiệu con gái với khách khứa và các bà mẹ chồng tương lai.
Mâm cỗ Trung thu là một
thành tố quan trọng trong Tết Trung thu, phản ánh rõ nét đặc điểm sản vật của
mùa thu trong môi trường nhiệt đới. Nổi bật trên mâm cỗ là các loại quả chín
như bưởi, hồng, na, chuối, kết hợp cùng những loại bánh đặc trưng như bánh nướng,
bánh dẻo (còn gọi là bánh mặt trăng) và bánh đúc xanh. Bên cạnh thực phẩm, mâm
cỗ còn được trang trí bằng các con giống nặn từ bột nếp pha màu hình phượng,
lân, tôm, cá hoặc các nhân vật quen thuộc trong tín ngưỡng như Phật Bà, thầy Đường
Tăng. Sự kết hợp giữa sản vật tự nhiên và nghệ thuật tạo hình thủ công khiến
mâm cỗ Trung thu không chỉ đáp ứng chức năng ẩm thực mà còn trở thành một không
gian biểu đạt thẩm mỹ dân gian độc đáo.
Đồ chơi truyền thống và sự
tái diễn giải biểu tượng xã hội
Thế giới đồ chơi Trung thu
truyền thống cho thấy khả năng sáng tạo phong phú của cộng đồng từ các vật liệu
đơn giản như tre, giấy bồi hay sắt tây. Trẻ em có thể rước đèn ông sao, đèn
cù, đèn xẻ rãnh, đèn kéo quân, bên cạnh những mô hình giấy bồi mang hình voi,
ngựa, kỳ lân, sư tử, rồng, bướm, bọ ngựa hoặc ông nghè đất. Trong đó, đèn kéo
quân là một sản phẩm đặc biệt nhờ cơ chế vận hành dựa trên sức nóng của ngọn nến
làm chuyển động bộ phận bên trong, kéo theo các hình rối giấy quay quanh và tạo
nên những cảnh tượng liên tục biến đổi. Sự kết hợp giữa cấu tạo thủ công, chuyển
động và ánh sáng đã làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của loại đèn này trong ký ức
Trung thu truyền thống.
Đối với tầng lớp nho sĩ
trong xã hội phong kiến, Trung thu được xem như "ngày Tết của tương
lai" trước các kỳ thi Hương và thi Đình. Trong tâm thức nho sĩ, con cóc
cung trăng được văn nghệ hóa thành Kim Thiềm (cóc vàng) biểu tượng cho sự đỗ đạt
tại kỳ thi Hương; cây đa chú Cuội biến thành cây Nguyệt Quế đại diện cho vinh
quang khoa cử; còn cá chép soi trăng đại diện cho khát vọng "vượt Vũ Môn
hóa rồng" lột xác từ nho sinh nghèo thành quan chức tại Điện Rồng (Nguyễn
Văn Huyên, 1942/2023). Ngoài ra, "Ông tiến sĩ giấy" hay ông nghè giấy
là hình tượng mang giá trị biểu tượng sâu sắc. Ở lớp nghĩa ban đầu, hình ảnh
ông tiến sĩ ngồi trang trọng dưới lọng vàng, mặc áo mão chỉnh tề trên mâm cỗ thể
hiện sự đề cao truyền thống hiếu học và gửi gắm mong ước của cha mẹ về sự thành
đạt của con trẻ. Sự xuất hiện của hình nộm Trạng nguyên, Tiến sĩ giấy hay bàn
thờ gia tộc trên mâm cỗ phản ánh sự kết hợp giữa ước vọng khuyến học của cha mẹ
và tham vọng khoa cử của nho sinh.
Tuy nhiên, ý nghĩa của
hình tượng này không cố định mà thay đổi cùng với những biến động lịch sử. Vào
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khi chế độ phong kiến suy tàn và nền khoa cử
Hán học rơi vào khủng hoảng, ông tiến sĩ giấy bắt đầu được các trí thức đương
thời tái diễn giải theo hướng châm biếm nhằm phê phán các danh vị hình thức và
sự xuống cấp của tầng lớp khoa bảng. Nguyễn Khuyến trong bài Vịnh Tiến sĩ giấy
đã mỉa mai sự đối lập giữa vẻ ngoài trang trọng và bản chất chỉ là món đồ chơi:
“Cũng cờ, cũng biển, cũng đao dai / Cũng gọi ông nghè, có kém ai... / Nghĩ rằng
đồ thật, hóa đồ chơi!”. Tinh thần trào phúng tương tự cũng xuất hiện trong tác
phẩm Tiến sĩ giấy của Trần Tế Xương khi nhà thơ bộc lộ sự ngán ngẩm đối
với hệ thống danh vị đã mất đi ý nghĩa thực chất: “Thế mà hoa hót với trâm bao
/ Mỗi năm mỗi tết Trung Thu thấy / Chán mắt cho nên chẳng muốn chào”. Sự chuyển
biến này cho thấy các biểu tượng Trung thu luôn có khả năng được bổ sung và tái
diễn giải, chứng minh Tết Trung thu không phải là tập hợp phong tục bất biến mà
là một thực hành văn hóa luôn vận động cùng đời sống xã hội.
Tết Trung thu trong bối cảnh
đất nước bị chia cắt
Trong giai đoạn đất nước bị
chia cắt hai miền từ năm 1954 đến năm 1975, các thực hành văn hóa truyền thống
nói chung và Tết Trung thu nói riêng đã trải qua những biến đổi đáng kể dưới
tác động của bối cảnh chính trị và các thiết chế quản lý văn hóa khác nhau (Lê
Đình Trọng và cộng sự, 2026; Lê Trung Vũ, 1987). Từ một sinh hoạt vốn gắn với
chu kỳ nông nghiệp, đời sống gia đình và những hình thức vui chơi dân gian của
trẻ em (Lê Trung Vũ, 1987), Tết Trung thu trong thời kỳ này ngày càng được đặt
trong những khuôn khổ tổ chức mới, qua đó trở thành một không gian biểu tượng
được sử dụng để truyền tải các giá trị chính trị, xã hội và giáo dục tới thế hệ
thiếu niên, nhi đồng (Lê Đình Trọng và cộng sự, 2026; Lê Trung Vũ, 1987).
Tại miền Bắc, sau khi hòa
bình được lập lại năm 1954, Tết Trung thu được tổ chức trong khuôn khổ đời sống
chính trị – xã hội của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ngày càng gắn với
hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Lê Trung Vũ, 1987). Việc Người gửi thư, thơ và
lời chúc tới thiếu niên, nhi đồng vào dịp Rằm tháng Tám dần trở thành một sinh
hoạt có tính thường niên (Lê Trung Vũ, 1987). Trong số đó, những câu thơ “Trung
thu trăng sáng như gương / Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng...”, được
sáng tác năm 1951, thể hiện sự quan tâm dành cho trẻ em và về sau trở thành một
hình ảnh quen thuộc trong ký ức về Trung thu thời kỳ cách mạng (Lê Trung Vũ,
1987). Sau năm 1954, việc tổ chức phá cỗ Trung thu cho thiếu nhi tại Phủ Chủ tịch
cũng góp phần tạo nên một hình thức biểu đạt cụ thể về sự quan tâm của nhà nước
đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em (Lê Trung Vũ, 1987). Trong
bối cảnh đó, những ý nghĩa truyền thống của Trung thu như đoàn viên, chăm sóc
trẻ nhỏ và gắn kết giữa các thế hệ được duy trì, đồng thời được bổ sung thêm
các nội dung liên quan đến lòng yêu nước và lý tưởng cách mạng (Lê Trung Vũ,
1987).
Ở miền Nam, dưới chính quyền
Việt Nam Cộng hòa, đặc biệt trong giai đoạn Ngô Đình Diệm cầm quyền từ năm 1955
đến năm 1963, Tết Trung thu cũng được đưa vào các hoạt động văn hóa – chính trị
của nhà nước. Các tư liệu hành chính lưu trữ từ
năm 1954–1955 được Lê Đình Trọng và cộng sự (2026) dẫn lại cho thấy một số chương
trình Trung thu khi đó được xây dựng với mục tiêu chính trị được xác định khá cụ
thể. Một văn bản của một ban tổ chức Tết Trung thu nêu: “Tố cộng chưa phổ cập tới giới nhi đồng,
xin nhân dịp này, phát động trong giới này. Vì thế, lễ này sẽ tổ chức với tánh
cách biểu dương thiếu nhi tố cộng” (Lê Đình Trọng và cộng sự, 2026). Nội
dung này cho thấy việc tổ chức Trung thu không chỉ hướng đến mục đích vui chơi,
giải trí cho trẻ em mà còn được gắn với các chương trình tuyên truyền và giáo dục
chính trị của chính quyền đương thời.
Định hướng đó còn được thể
hiện qua sự điều chỉnh một số đồ chơi, biểu tượng và hình thức sinh hoạt vốn
quen thuộc trong Trung thu truyền thống (Lê Đình Trọng và cộng sự, 2026). Theo
các tư liệu được dẫn, hình tượng “Ông tiến sĩ giấy” – vốn mang ý nghĩa đề cao
tinh thần hiếu học trong văn hóa dân gian (Lê Trung Vũ, 1987) – được đề nghị
thay bằng những mô hình mang hình ảnh Ngô Thủ tướng, chiến sĩ quốc gia hoặc các
nhân vật lịch sử (Lê Đình Trọng và cộng sự, 2026). Bên cạnh đó, nội dung trang
trí trên đèn Trung thu cũng như các tiết mục trong hội thi hát trống quân được
định hướng lồng ghép những chủ đề ái quốc, khuyến học và “tố cộng” (Lê Đình Trọng
và cộng sự, 2026). Như vậy, một số yếu tố của lễ hội dân gian đã được điều chỉnh
để phù hợp với mục tiêu tuyên truyền và giáo dục chính trị trong bối cảnh đương
thời.
Việc đưa các nội dung
chính trị vào sinh hoạt Trung thu đã làm thay đổi một phần chức năng của không
gian lễ hội, từ chỗ chủ yếu phục vụ nhu cầu vui chơi, giao tiếp cộng đồng và
giáo dục truyền thống sang đảm nhận thêm vai trò truyền tải những thông điệp
chính trị – tư tưởng. Trong một số diễn văn và
chương trình khánh tiết, hình ảnh Ngô Đình Diệm được xây dựng như một người đứng
đầu có vai trò chăm lo, bảo trợ cho thiếu nhi miền Nam. Đồng thời, các diễn
ngôn này cũng thể hiện sự đối lập chính trị với miền Bắc thông qua những nhận định
về hoàn cảnh của trẻ em và việc thiếu nhi tham gia các tổ chức chính trị tại miền
Bắc (Lê Đình Trọng và cộng sự, 2026). Việc tổ chức Trung thu vì vậy không chỉ
mang ý nghĩa văn hóa và giáo dục mà còn được đặt trong bối cảnh cạnh tranh về
biểu tượng và diễn ngôn giữa hai chính thể tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam trong
thời kỳ đất nước chia cắt.
Nhìn từ quá trình biến đổi
đó, Tết Trung thu trong giai đoạn 1954–1975 cho thấy khả năng thích ứng của một
lễ hội truyền thống trước những điều kiện chính trị và xã hội khác nhau. Ở cả
hai miền, những yếu tố vốn thuộc đời sống dân gian đều được đặt trong những
khuôn khổ tổ chức mới và được bổ sung các lớp ý nghĩa phù hợp với mục tiêu giáo
dục, xã hội và chính trị của từng chính thể (Lê Đình Trọng và cộng sự, 2026; Lê
Trung Vũ, 1987). Tuy nhiên, bên cạnh những biến đổi về nội dung và hình thức tổ
chức, các thực hành cơ bản như chăm lo cho trẻ em, sum họp gia đình, rước đèn,
phá cỗ và sinh hoạt cộng đồng vẫn tiếp tục được duy trì. Điều này cho thấy những
can thiệp từ các thiết chế chính trị có thể làm thay đổi cách thức tổ chức và
diễn giải lễ hội, nhưng không hoàn toàn thay thế những giá trị gia đình, cộng đồng
và nhu cầu vui chơi vốn đã được tích lũy lâu dài trong đời sống dân gian (Lê
Đình Trọng và cộng sự, 2026; Lê Trung Vũ, 1987).
Từ Đổi mới tới di sản văn
hóa trong xã hội đương đại
Quá trình định hình và biến
đổi trong cách Nhà nước nhìn nhận các thực hành văn hóa truyền thống ở Việt Nam
từ nửa sau thế kỷ XX đến nay cho thấy mối quan hệ đan xen giữa tư duy quản lý
xã hội, sự phát triển của tri thức học thuật và nhu cầu duy trì đời sống tâm
linh, cộng đồng của người dân (Endres, 2002).
Sau năm 1954, cùng với quá
trình củng cố bộ máy nhà nước tại miền Bắc, nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian gắn
với tín ngưỡng làng xã được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ hơn .
Trong quan điểm quản lý hành chính và tư tưởng của thời kỳ này, không ít lễ hội
truyền thống bị phê phán là biểu hiện của “mê tín dị đoan”, “lãng phí” hoặc là
những “tàn dư phong kiến” cần được hạn chế và loại bỏ (Endres, 2002). Các văn bản
hướng dẫn như Quy ước nếp sống mới vì vậy tập trung điều chỉnh cụ thể
các nghi thức tang lễ, cưới hỏi và giỗ chạp theo hướng tiết kiệm, khoa học, đồng
thời không dành vị trí cho lễ hội làng trong chương trình sinh hoạt văn hóa
chính thức. Trong bối cảnh đó, Tết Trung thu không bị loại bỏ hoàn toàn do gắn
chặt với hoạt động dành cho thiếu nhi, song nhiều yếu tố nghi lễ, tín ngưỡng và
hình thức tổ chức dân gian cũng được giản lược để phù hợp với định hướng xây dựng
đời sống văn hóa tiết kiệm và có tổ chức (Endres, 2002; Lê Trung Vũ, 1987).
Đổi Mới: Sự dịch chuyển
trong tư duy nghiên cứu và quản lý
Từ thập niên 1980, cách tiếp
cận đối với lễ hội truyền thống bắt đầu có những chuyển biến đáng chú ý. Những
hạn chế của phương thức quản lý chủ yếu dựa trên các biện pháp hành chính,
trong khi nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng và tâm linh của cộng đồng vẫn tiếp tục tồn
tại, đã đặt ra yêu cầu phải xem xét lại giá trị và chức năng xã hội của các thực
hành văn hóa cổ truyền. Một trong những lực lượng có vai trò
quan trọng trong sự thay đổi này là giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
(Endres, 2002). Thông qua các nghiên cứu dân tộc học, sử học và văn hóa dân
gian, lễ hội làng từng bước được diễn giải lại như một hình thức “sinh hoạt văn
hóa cộng đồng”, gắn với ký ức lịch sử, bản sắc địa phương và sự liên kết giữa
các thành viên trong cộng đồng (Endres, 2002).
Trong tiến trình đó, Giáo
sư Trần Quốc Vượng cùng nhiều học giả đương thời đã góp phần phổ biến thuật ngữ
phức hợp “Lễ hội” trong các công trình nghiên cứu, trong đó “Lễ” được hiểu là
phương diện nghi thức và tính thiêng, còn “Hội” thể hiện phương diện vui chơi,
giao tiếp và sinh hoạt cộng đồng (Endres, 2002). Việc hình thành và sử dụng rộng
rãi khái niệm này có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình tái xác lập vị trí của
nghi lễ và đời sống tâm linh trong cấu trúc văn hóa dân tộc. Đồng
thời, để lý giải sự phù hợp của lễ hội truyền thống với các giá trị xã hội
đương thời, giới học thuật đã vận dụng triết lý “Uống nước nhớ nguồn” như một
cơ sở diễn giải cho việc phụng thờ thành hoàng, các anh hùng dân tộc hay tổ nghề.
Theo cách tiếp cận này, các thực hành thờ phụng không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng
mà còn được xem là hình thức tưởng nhớ công đức tiền nhân, giáo dục đạo đức và
củng cố tinh thần cố kết cộng đồng (Endres, 2002). Những trao đổi học thuật diễn
ra trên Tạp chí Văn hóa Dân gian, cùng các hội thảo quốc gia vào các năm
1986 và 1993, đã góp phần tạo dựng cơ sở lý luận cho sự thay đổi trong chính
sách, từ hạn chế và cấm đoán sang quản lý, phục hồi và bảo tồn có chọn lọc các
lễ hội truyền thống (Endres, 2002).
Tết Trung thu Hội An: Di sản
văn hóa
Sự thay đổi trong nhận thức
học thuật sau đó từng bước được thể chế hóa trong đường lối và hệ thống pháp luật
của Nhà nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII năm 1998 về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc” khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,
qua đó tạo cơ sở quan trọng cho việc phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống trong đời sống đương đại (Endres, 2002). Tiếp đó, Luật Di sản
Văn hóa năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, đã hình thành khuôn khổ
pháp lý rõ ràng hơn cho công tác bảo vệ di sản, trong đó các phong tục, tập
quán tốt đẹp và lễ hội truyền thống được công nhận là những thành tố của di sản
văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ và phát huy (Endres, 2002).
Trường hợp Tết Trung thu tại
TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam là một minh chứng tiêu biểu cho quá trình chuyển đổi
từ một thực hành văn hóa cộng đồng thành đối tượng được bảo vệ trong khuôn khổ
chính sách di sản. Ngày 14/02/2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
Quyết định số 228/QĐ-BVHTTDL, chính thức đưa “Lễ hội truyền thống, tập quán
xã hội và tín ngưỡng Tết Trung thu ở Hội An” vào Danh mục Di sản văn hóa
phi vật thể quốc gia (Lưu Hương, 2023). Giá trị riêng có của Tết Trung thu Hội
An được hình thành từ sự giao thoa lâu dài giữa tập quán văn hóa của cư dân Việt
với các yếu tố văn hóa Trung Hoa và Nhật Bản trong không gian thương cảng cổ
(Thanh Hòa, 2023). Bên cạnh những hình thức sinh hoạt Trung thu
quen thuộc, một đặc trưng nổi bật tại Hội An là múa Thiên Cẩu, loại hình diễn
xướng dân gian gắn với quan niệm trừ tà, cầu mong mưa thuận gió hòa và huyền
thoại Thiên Cẩu nhả mặt trăng. Thực hành này tồn tại song hành với múa Lân và
các hoạt động của “Đêm rằm phố cổ”, tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng của
địa phương (Lưu Hương, 2023).
Việc Tết Trung thu Hội An
được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho thấy sự thay
đổi căn bản trong cách thức Nhà nước nhìn nhận và quản lý các thực hành văn hóa
truyền thống. Từ một sinh hoạt chủ yếu tồn tại trong phạm vi gia đình và cộng đồng
địa phương, Tết Trung thu đã được đặt trong khuôn khổ của chính sách bảo tồn di
sản, qua đó được thừa nhận không chỉ bởi giá trị lịch sử và văn hóa mà còn bởi
vai trò của nó đối với việc duy trì ký ức cộng đồng, củng cố bản sắc địa phương
và truyền nối các thực hành văn hóa giữa các thế hệ (Thanh Hòa, 2023).
Tết Trung Thu trong đời sống
đương đại
Trong bối cảnh đô thị hóa
nhanh chóng và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng ở thế kỷ XXI, Tết Trung thu
tiếp tục cho thấy sức sống bền bỉ cũng như khả năng thích ứng đáng kể trước những
biến đổi của đời sống xã hội (Minh Duy, 2026). Tuy nhiên, quá trình tồn tại và
phát triển của lễ hội này hiện diễn ra trong sự đan xen giữa nhiều xu hướng
khác nhau. Một mặt, Tết Trung thu phải đối diện với nguy cơ thương mại hóa, khi
các sản phẩm công nghiệp ngày càng chiếm ưu thế và có xu hướng thu hẹp không
gian tồn tại của đồ chơi dân gian truyền thống. Mặt khác, những năm gần đây lại
ghi nhận sự trở lại khá mạnh mẽ của nhiều thực hành Trung thu cổ truyền, trong
đó thế hệ trẻ giữ vai trò đáng kể thông qua các hoạt động nghiên cứu, phục dựng
và sáng tạo trên nền tảng di sản (Minh Duy, 2026).
Tại Hà Nội, chuỗi sự kiện
văn hóa “Lưu Trăng Phố Cổ 2026” và triển lãm nghệ thuật “Lưu Trăng”
tổ chức tại không gian 22 Hàng Buồm là những trường hợp tiêu biểu cho xu hướng
làm mới các giá trị truyền thống trong bối cảnh đô thị đương đại (Minh Duy,
2026). Các nhóm sáng tạo trẻ như Của Nả, Thong Dong và The Annam đã phối hợp với
nghệ nhân dân gian, khai thác tư liệu cũ và kỹ thuật thủ công truyền thống nhằm
phục dựng, đồng thời phát triển lại nhiều loại đồ chơi từng có nguy cơ mai một.
Trong số đó có đèn Nhật-Nguyệt, đèn Cuốn Thư, đèn kéo quân, ông tiến sĩ giấy và
các linh vật bằng giấy bồi hoặc đất nung như Bạch Mã, Hồng Mã và Thiết Mã. Những
hoạt động này không chỉ hướng đến việc tái hiện nguyên mẫu cổ truyền mà còn cho
thấy nỗ lực đưa di sản trở lại đời sống bằng những cách thức phù hợp hơn với cảm
quan thẩm mỹ và nhu cầu thưởng thức văn hóa hiện nay.
Cùng với sự phục hồi của
các sản phẩm thủ công truyền thống, không gian thực hành Tết Trung thu cũng có
những thay đổi rõ rệt. Nếu trước đây các hoạt động chủ yếu gắn với sân đình,
xóm làng hoặc không gian gia đình, thì ngày nay Trung thu còn hiện diện tại các
tuyến phố đi bộ, trung tâm văn hóa, không gian triển lãm và trên các nền tảng
truyền thông số (Minh Duy, 2026). Sự dịch chuyển này phản ánh khả năng thích ứng
của lễ hội trước những thay đổi về cấu trúc cư trú, môi trường đô thị và phương
thức giao tiếp xã hội. Mặc dù hình thức tổ chức và kỹ thuật chế tác có nhiều biến
đổi, những giá trị cơ bản của Tết Trung thu vẫn tiếp tục được duy trì, đặc biệt
là việc đặt trẻ em ở vị trí trung tâm, đề cao tình cảm gia đình và tạo lập
không gian gắn kết cộng đồng (Minh Duy, 2026; Nguyễn Trọng Lịch, 2026).
*
* *
Những biến đổi về Tết
Trung Thu cho thấy đây là một di sản văn hóa sống, luôn vận động và thích ứng
trước những biến chuyển của đời sống xã hội Việt Nam. Từ nguồn gốc là một lễ tiết
gắn với chu kỳ sản xuất nông nghiệp, tín ngưỡng Rồng – Mặt Trăng và các giá trị
luân lý gia đình, Tết Trung Thu đã trải qua nhiều lần điều chỉnh về chức năng
và ý nghĩa xã hội. Trong giai đoạn đất nước chia cắt từ năm 1954 đến năm 1975,
lễ hội từng được đặt trong khuôn khổ những mục tiêu tuyên truyền và giáo dục chính trị.
Bước sang thời kỳ Đổi Mới, Trung Thu dần được nhìn nhận lại như một “sinh hoạt
văn hóa cộng đồng” và từng bước được đặt trong khuôn khổ chính sách bảo tồn,
phát huy di sản văn hóa (Endres, 2002).
Quá trình lịch sử này phản
ánh mối quan hệ tương tác giữa thực hành văn hóa và thể chế quản lý. Nhà nước,
thông qua hệ thống chính sách và các hình thức tổ chức xã hội, có khả năng tác
động đến phương thức thực hành cũng như cách diễn giải các biểu tượng truyền thống.
Tuy nhiên, sức sống của lễ hội không chỉ phụ thuộc vào sự định hướng từ các chính sách, cơ chế quản lý mà còn bắt nguồn từ nhu cầu tinh thần, tình cảm và khả năng
duy trì các mối liên kết xã hội của cộng đồng. Trong mối quan hệ đó, người dân
vẫn giữ vai trò chủ thể trong việc tiếp nhận, điều chỉnh và trao truyền các thực
hành văn hóa qua các thế hệ.
Trong bối cảnh đương đại,
việc một số thực hành liên quan đến Trung Thu được quan tâm trong hoạt động bảo
tồn di sản phi vật thể, cùng với các dự án phục dựng đồ chơi truyền thống do những
người trẻ tại đô thị thực hiện, đã tạo thêm những điều kiện mới cho quá trình
tiếp nối và tái tạo lễ hội. Tuy nhiên, khả năng thích ứng chỉ có thể tạo nên sức
sống bền vững khi những đổi mới không làm suy giảm các giá trị văn hóa nền tảng
của Trung Thu, đặc biệt là vị trí của trẻ em, sự gắn kết giữa các thành viên
trong gia đình và tinh thần cộng đồng. Vì vậy, sự kết hợp hợp lý giữa bảo tồn
những giá trị đã được trao truyền và tiếp nhận những hình thức sáng tạo phù hợp
với đời sống hiện đại là cơ sở quan trọng để Tết Trung Thu tiếp tục duy trì vị
trí và ý nghĩa của mình trong xã hội Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Endres, Kirsten W. (2002). Beautiful customs, worthy traditions: Changing state
discourse on the role of Vietnamese culture. Internationales Asienforum,
33(3–4), 303–322.
Lê Đình Trọng, Đặng Thị
Tuyết My, Nguyễn Lê Trùng Dương, Phạm Mai Gia Huy, & Đặng Hoàng An Khánh.
(2026). Tổ chức các ngày lễ truyền
thống thời Việt Nam Cộng hòa (giai đoạn 1955-1963). Tạp chí Khoa học Đại học
Đồng Tháp, 15, 1–16. https://doi.org/10.52714/dthu.sch.3131.1956
Lê Trung Vũ. (1987). Tết Trung thu. Tạp chí Văn hóa Dân gian, (4),
57–59.
Lưu Hương. (2023, ngày 29
tháng 9). Hội An đón nhận danh
hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Tết Trung thu. Báo Điện tử Chính
phủ.
https://baochinhphu.vn/hoi-an-don-nhan-danh-hieu-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia-tet-trung-thu-102230928224218674.htm
Minh Duy. (2026, ngày 11
tháng 9). Giới trẻ Hà Nội làm mới
di sản Trung thu trong triển lãm nghệ thuật “Lưu trăng”. Báo Nhân Dân điện
tử. https://nhandan.vn/gioi-tre-ha-noi-lam-moi-di-san-trung-thu-trong-trien-lam-nghe-thuat-luu-trang-post987805.html
Nguyễn Văn Huyên. (2023,
ngày 18 tháng 9). Tết Trung thu: Lễ
hội của rồng và mặt trăng (Bản lược dịch). Thư viện Nguyễn Văn Hưởng.
https://thuviennguyenvanhuong.vn/tet-trung-thu-le-hoi-cua-rong-va-mat-trang.html
(Tác phẩm gốc xuất bản năm 1942).
Phan Kế Bính. (1995). Việt Nam phong tục. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí
Minh. (Tác phẩm gốc xuất bản năm 1915).
Thanh Hòa. (2023, ngày 29
tháng 9). Tết Trung thu ở Hội An
là Di sản văn hóa của quốc gia. Báo ảnh Việt Nam.
https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/long-form/tet-trung-thu-o-hoi-an-la-di-san-van-hoa-cua-quoc-gia-343842.html
Nguyễn Trọng Lịch. (2026,
ngày 20 tháng 9). Trung Thu Việt
Nam: Truyền thống và đổi mới trong đời sống cộng đồng. VietnamPlus. https://www.vietnamplus.vn/trung-thu-gin-giu-gia-tri-van-hoa-luu-giu-ky-uc-doan-vien-post1136975.vnp
Chi Đoàn viện Nghiên cứu Văn hóa