Nghề giúp việc gia đình trong bối cảnh chính sách và văn hóa giới hiện nay
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Nghề giúp việc gia đình trong bối cảnh chính sách và văn hóa giới hiện nay” của TS. Hồ Thị Thanh Nga” (Viện Nghiên cứu Văn hóa).
Nguồn: hình minh hoạ tạo bởi Trí tuệ nhân tạo (AI)
Việc thực thi chính sách Đổi mới từ năm
1986 đã đánh dấu bước ngoặt căn bản trong cấu trúc kinh tế - xã hội Việt Nam,
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thay đổi này không chỉ khôi phục đà tăng trưởng kinh
tế sau khủng hoảng mà còn tạo điều kiện cho sự nổi lên của các hình thức phân
công lao động mới, bao gồm cả sự mở rộng của khu vực phi chính thức, trong đó
có nghề lao động giúp việc gia đình. Dưới tác động của tốc độ đô thị hóa gia
tăng và sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu đô thị, nhu cầu về các dịch vụ chăm
sóc gia đình - đặc biệt là thông qua thuê lao động nữ từ khu vực nông thôn - trở
nên phổ biến và liên tục tăng trưởng trong ba thập niên qua.
Bài viết này tiếp cận nghề lao động giúp việc
gia đình như một hiện tượng xã hội phản ánh mối quan hệ qua lại giữa biến đổi
kinh tế chính trị vĩ mô, cấu trúc giới và diễn ngôn văn hóa. Từ đó, tác giả
phân tích sự hình thành và phát triển của nghề này thông qua ba bình diện: bối
cảnh kinh tế - xã hội sau Đổi mới, các chuẩn mực văn hóa - giới mang tính lịch
sử, và khuôn khổ pháp lý điều chỉnh quan hệ lao động phi chính thức trong gia
đình. Bài viết góp phần lý giải nghề lao động giúp việc gia đình không đơn thuần
là kết quả của nhu cầu thị trường, mà còn là biểu hiện của các quan hệ bất bình
đẳng giới, sự tái cấu trúc hộ gia đình và chiến lược sinh kế của phụ nữ trong
xã hội đương đại Việt Nam.
Bối cảnh kinh tế, xã hội Việt Nam sau Đổi mới
và nghề lao động giúp việc gia đình
Năm 1986, việc thực hiện chính sách Đổi mới
đã giúp Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhờ đó giải quyết được cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội sâu sắc và đất nước bước vào một quá trình phát triển mới.
Trong những thập niên sau đó, tăng trưởng kinh tế cao và những thành tựu đáng kể
trong xóa đói giảm nghèo đã biến Việt Nam từ một quốc gia thuộc nhóm nghèo nhất
sang một quốc gia có thu nhập trung bình thấp trên thế giới (Asia Foundation,
2011).
Đô thị hóa và sự tăng trưởng về quy mô của
tầng lớp trung và thượng lưu trong xã hội là một biểu hiện dễ nhận thấy của
tăng trưởng kinh tế. Câu chuyện đô thị hóa của Việt Nam thường xoay quanh các
thành phố đông dân như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Mỗi đô thị này hiện có
hơn 10 triệu dân và tập trung phần lớn tầng lớp trung lưu của Việt Nam. Cần
Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng và một số thành phố lớn khác cũng là nơi mà tầng lớp
trung lưu đang trên đà gia tăng (McKinsey & Company, 2021). Sự vận hành của
nền kinh tế thị trường, với việc ra đời các công ty tư nhân, các hoạt động buôn
bán, kinh doanh tư nhân phát triển mạnh đã làm thay đổi bộ mặt Hà Nội cũng như
các đô thị lớn. Bên cạnh đó, sau Đổi mới, đời sống của các tầng lớp nhân dân được
cải thiện rõ rệt, nhất là ở các đô thị, do đó nhu cầu tận hưởng các loại hình dịch
vụ xã hội của các gia đình ở đô thị ngày càng tăng. Thuê người giúp việc gia
đình để có thời gian tập trung cho công việc và nâng cao chất lượng sống đang
trở thành nhu cầu thực tế của nhiều gia đình ở các đô thị.
Đổi mới đã thay đổi đời sống của nhiều hộ
gia đình tại Việt Nam, tác động tới nhiều thành phần kinh tế, nhiều khu vực
kinh tế. Tuy vậy, các thành tựu trong tăng trưởng kinh tế và nâng cao thu nhập
bình quân đầu người không có tác động như nhau đối với mọi thành phần trong xã
hội. Ở các vùng nông thôn, các hợp tác xã nông nghiệp đã được thay thế bằng các
hộ gia đình như một đơn vị sản xuất mới. Đất tập thể được chia lại cho các cá
nhân dựa trên hộ khẩu. Kết quả là, nhà nước đặt trọng tâm mới vào gia đình với
tư cách vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tái sản xuất, đóng một vai trò
quan trọng trong tăng trưởng kinh tế quốc gia (Tran và Le, 1997). Điều này cũng
đặt gánh nặng kinh tế không hề nhỏ cho các hộ gia đình. Trong nền kinh tế thị
trường, mặc dù người dân nhận thấy mình có nhiều tự do hơn trong thương mại,
tham gia vào khu vực tư nhân và mở doanh nghiệp của riêng mình, họ cũng đồng thời
nhận được rất ít hoặc không nhận được một số hình thức phúc lợi xã hội quan trọng
trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Ngoại trừ trường tiểu học, gia
đình học sinh phải trả học phí và nhiều loại chi phí giáo dục khác. Các nhà trẻ
và trường mẫu giáo hoạt động dưới sự trợ cấp của Nhà nước để tạo điều kiện cho
phụ nữ tham gia lao động sản xuất đã bắt đầu bị hạn chế về mặt số lượng
(Beresford, 2003). Dịch vụ chăm sóc sức khỏe miễn phí cũng không còn phổ cập nữa,
khi mà bảo hiểm y tế miễn phí chỉ cung cấp cho các nhóm dân cư yếu thế như người
nghèo, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, cựu chiến binh và một số nhóm
đối tượng chính sách khác (World Bank, Asian Development Bank, UK Department
for International Development, Canadian International Development Agency,
2006). Trong khi đầu tư nước ngoài, ngành xuất khẩu phát triển mạnh và các cơ hội
kiếm tiền nhanh chóng khác giúp một số người làm giàu nhanh chóng, nhiều người
khác có thể nói là đã bị tụt lại phía sau hay bị loại khỏi quá trình này. Ở
nông thôn, các hợp tác xã nông nghiệp không còn, người dân không còn chỉ trông
chờ vào nông nghiệp với một năm hai vụ nông nhàn, họ bắt đầu tìm kiếm các công
việc trên thành phố. Trong nhóm phụ nữ nông thôn, một bộ phận lớn trong số họ
là những người chịu nhiều thiệt thòi trong hệ thống kinh tế - xã hội mới. Một mặt,
sự thiếu hụt về trình độ kỹ thuật và học vấn khiến cho họ trở nên kém cạnh
tranh trên thị trường lao động, đặc biệt là những ngành nghề mới cần trình độ học
vấn, tay nghề cao. Mặt khác, sự thiếu hụt trong hỗ trợ về các dịch vụ xã hội cơ
bản càng gây thêm áp lực đối với họ. Một giải pháp cho tình thế này là tìm đến
các đô thị, nơi có sẵn các cơ hội kiếm sống trong khu vực phi chính thức. Trong
dòng người di cư từ nông thôn đến đô thị tìm việc, phụ nữ đã chiếm một số lượng
lớn và có ưu thế ở một số lĩnh vực công việc, bao gồm cả các công việc có tay
nghề thấp, điều kiện sống không an toàn và không được bảo vệ đầy đủ.
Chính sự nổi lên của tầng lớp trung lưu và
thượng lưu sau Đổi mới và sự tan vỡ của các mô hình hợp tác xã nông nghiệp đã
là nguyên nhân khiến nhiều người phụ nữ nông thôn phải rời khỏi làng quê lên đô
thị làm nghề giúp việc trong các gia đình tại đô thị. Quy luật về cung cầu lao
động cùng với sự tự do di chuyển được bảo đảm trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đã đưa một làn sóng những người lao động nông thôn,
trong đó có rất nhiều phụ nữ, ra các thành phố tìm việc làm. Một bộ phận không
nhỏ phụ nữ nông thôn đã ra đô thị để tham gia hoạt động giúp việc gia đình
(Nghiên cứu của Diễn đàn Phát triển Việt Nam, 2007).
Ngoài yếu tố về sự phát triển của nền kinh
tế tư nhân và sự tan vỡ của các mô hình kinh tế hợp tác xã nông nghiệp đã tạo
nên sự xuất hiện của loại hình dịch vụ nghề giúp việc gia đình, cũng cần nhìn
nhận rằng, nhu cầu về giúp việc gia đình tăng nhanh còn phản ánh quá trình tái
cấu trúc hệ hình đạo đức xã hội. Trước Đổi mới, cơ cấu lao động chủ yếu gắn với
kinh tế tập thể, hợp tác xã và khu vực công. Lao động dịch vụ cá nhân như giúp
việc nhà thường bị loại trừ khỏi các diễn ngôn chính thống về nghề nghiệp và bị
xem là tàn dư của quan hệ phong kiến. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau Đổi mới,
khi nhà nước rút dần vai trò khỏi các lĩnh vực cung cấp dịch vụ công - đặc biệt
là y tế, giáo dục mầm non và chăm sóc trẻ em - các hộ gia đình buộc phải tái cấu
trúc chiến lược sinh kế và phân công lao động nội bộ. Trách nhiệm chăm sóc và
tái sản xuất xã hội, trước đây từng được nhà nước gánh vác một phần thông qua
các thiết chế công, nay được đẩy trở lại cho hộ gia đình - một biểu hiện rõ nét
của hiện tượng “phúc lợi gia đình hóa" (familialism). Trong bối cảnh đó,
việc thuê người lao động từ bên ngoài để thực hiện các chức năng tái sản xuất
xã hội trở thành một chiến lược tất yếu, nhất là ở các gia đình thành thị thuộc
tầng lớp trung lưu đang ngày một mở rộng. Lao động giúp việc gia đình đã xuất
hiện trở lại và dịch vụ thuê người giúp việc gia đình đã trở thành một lĩnh vực
kinh tế phát triển mạnh. Khi ngày càng nhiều phụ nữ tham gia vào thị trường lao
động tự do, đặc biệt là ở các thành phố lớn, đồng thời với đó là sự phát triển
của tầng lớp trung lưu có khả năng tự chi trả cho lao động giúp việc gia đình,
nhu cầu về lao động giúp việc gia đình ngày một tăng cao. Nhu cầu về lao động
giúp việc gia đình - đặc biệt là nữ giới - tăng nhanh phản ánh quá trình tái cấu
trúc hệ hình đạo đức xã hội, nơi các gia đình thành đạt phải đáp ứng chuẩn mực
“toàn vẹn cả về vật chất và chăm sóc. Đây cũng là bối cảnh thúc đẩy sự nổi lên
của hình thức tiêu dùng dịch vụ chăm sóc như một biểu tượng cho năng lực chi trả
và quyền lực tiêu dùng giai cấp.
Như vậy, Đổi mới đồng thời mở rộng thị trường
lao động và hợp thức hóa di cư nội địa, tạo điều kiện cho một làn sóng phụ nữ
nông thôn - đặc biệt là những người bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng nông nghiệp hoặc
thu hẹp đất canh tác - dịch chuyển ra các đô thị lớn để tìm kiếm cơ hội sinh kế.
Nghề giúp việc gia đình - với yêu cầu kỹ năng đầu vào không cao nhưng gắn với
năng lực chăm sóc truyền thống - trở thành công việc khả thi đối với nhiều phụ
nữ. Từ cuối những năm 1990 đến đầu thập niên 2000, nghề này đã phát triển từ
hình thức lao động thân tộc (người thân, họ hàng) sang mô hình thuê mướn qua
trung gian hoặc thỏa thuận miệng, đánh dấu quá trình chuyển đổi từ quan hệ
tương trợ sang quan hệ lao động bán chính thức, không được bảo vệ về mặt pháp
lý. Có thể thấy, chính sách Đổi mới không chỉ là bối cảnh kinh tế - chính trị
thúc đẩy sự xuất hiện và mở rộng của nghề lao động giúp việc gia đình, mà còn
là cơ chế tạo điều kiện cho quá trình tái định hình trật tự giới và giai cấp
trong cấu trúc chăm sóc xã hội. Trong cấu trúc mới này, nghề giúp việc trở
thành một hình thức "chăm sóc hóa trả lương" (paid care
commodification), phản ánh nhu cầu thị trường. Nghề giúp việc, do đó, không chỉ
cần được nhìn nhận như một hiện tượng kinh tế, mà như một biểu hiện sinh động của
các chuyển động xã hội sâu rộng trong thời kỳ hậu Đổi mới.
Diễn ngôn về văn hóa giới thời kì sau Đổi mới
và ảnh hưởng của nó tới nghề lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam
Bên cạnh những chuyển biến về xã hội và
kinh tế, nghề lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam còn được định hình sâu sắc
trong các khuôn mẫu văn hóa - giới bắt nguồn từ truyền thống Nho giáo và được
tái tạo qua các diễn ngôn hiện đại hóa.
Việt Nam là một quốc gia Đông Nam Á chịu ảnh
hưởng nặng nề của Nho giáo vốn nhấn mạnh đến thứ bậc xã hội và giới tính
(Nguyen, 2010). Phụ nữ trong xã hội Nho giáo nhìn chung ở vị thế thấp hơn nam
giới. Gia đình được coi là một tập thể có thứ bậc và phải có người đứng đầu,
thường là nam giới (Werner, 2009). Chế độ xã hội của người Việt chủ yếu mang đặc
điểm của chế độ phụ hệ, nơi có tập quán "trọng nam" cả trong các lĩnh
vực xã hội, hôn nhân, gia đình và sinh đẻ (Luong, 2003). Các chuẩn mực về giới
xác định phụ nữ và trẻ em gái là phải có bản chất dịu dàng, biết phục tùng và
biết kiềm chế, cư xử chu đáo hơn nam giới. Họ phải thường xuyên chứng tỏ tư
cách đạo đức của mình trong các hành vi hằng ngày. Ngược lại, đàn ông con trai
dù có các đặc điểm như nóng nảy, hung hăng, bộc phát, thiếu tế nhị hoặc thiếu
suy nghĩ thì vẫn được chấp nhận (Rydstrom, 1998). Ngày nay, ngay cả các phương
tiện truyền thông đại chúng như báo chí vẫn mặc nhiên thừa nhận những đặc điểm
truyền thống của phụ nữ như “dịu dàng, chu đáo, đảm đang”, thậm chí còn định hướng
như là tính cách điển hình của người phụ nữ. Kể cả khi khai thác đề tài người nữ
tham chính, báo chí cũng thường xây dựng khuôn mẫu kép về nữ chính trị gia vừa
“giỏi việc nước, đảm việc nhà" - điều này ít khi gặp ở nhân vật nam ở vị
trí tương tự.
Các chuẩn mực về giới, do vậy, đã và vẫn
đang liên quan sâu sắc đến sự phân công lao động cả trong và ngoài gia đình.
Trong xã hội truyền thống của người Việt, phụ nữ hoàn toàn chịu trách nhiệm
về công việc gia đình, trong khi nam giới đảm nhận những công việc cần nhiều lao động
và được xem là quan trọng hơn, chủ yếu là công việc ngoài xã hội (bao gồm cả
“việc nước”, “việc làng", “việc họ”). Mô hình phân công lao động này vẫn ảnh
hưởng sâu sắc đối với đời sống hằng ngày sau Đổi mới. Một cuộc khảo sát vào năm
1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh - một trong những đô thị phát triển nhất cả nước
- cho thấy phụ nữ thành thị dành gần 6 tiếng mỗi ngày để làm việc nhà, trong
khi nam giới chỉ dành 1,5 tiếng mỗi ngày. Ở nông thôn, sự chênh lệch còn lớn
hơn nữa khi phụ nữ dành tới 7,5 giờ và nam giới chỉ 30 phút (Long và các cộng sự,
2000).
Mặc dù có nhiều thay đổi về kinh tế và
chính trị trong suốt lịch sử gần đây, nhưng nam giới vẫn ít tham gia vào các
công việc nội trợ và chăm sóc gia đình, trong khi đóng góp kinh tế của phụ nữ
thông qua các công việc không được trả lương được ước tính là từ $1/10$ đến 10
lần mức trung bình thu nhập bình quân đầu người (HealthBridge, 2008). Theo
Leshkowich, trong các cuộc trò chuyện hằng ngày, người Việt Nam thường sử dụng
các thuật ngữ quy chất luận [essentialist] để giải thích sự khác biệt về giới -
cụ thể là nam giới và nữ giới vốn dĩ khác nhau như thế nào - mà không đề cập đến
các quá trình cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho các giả định về sự khác nhau
đó. Ví dụ, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, phụ nữ thường được mô tả
là phù hợp với công việc chăm sóc con cái hoặc nội trợ và đàn ông là người đóng
vai trò trụ cột kinh tế của gia đình (Leshkowich, 2012). Như lập luận của
Werner, các chuẩn mực giới như vậy không bị quy định bởi đóng góp kinh tế của mỗi
giới mà chủ yếu là do vai trò và thói quen là sản phẩm của bối cảnh kinh tế -
xã hội và tư tưởng truyền thống để lại (Werner, 2009).
Sau Đổi mới, với mong muốn duy trì các gia
đình ổn định vì lợi ích kinh tế - xã hội của quốc gia đã khiến Nhà nước vô hình
chung khuyến khích các giá trị bảo thủ (chẳng hạn như hệ thống tôn ti trật tự
trong gia đình). Mặt khác, cách mà các giá trị gia đình “hiện đại” được xây dựng
và lan tỏa cũng có vấn đề của nó. Diễn ngôn về xây dựng “Gia đình hạnh
phúc" được cụ thể hóa bằng cuộc vận động xây dựng “Gia đình văn hóa"
tuy được thể hiện một cách hiện đại, song lại tận dụng một cách không chủ ý các
quan niệm cố hữu về vai trò giới của phụ nữ trong gia đình. Đến thời kỳ cải
cách mở cửa, vai trò hòa hợp gia đình của người phụ nữ lại được đặc biệt nhấn mạnh.
Các chính sách như Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 và Chiến dịch Gia đình hạnh
phúc nhấn mạnh tới vai trò của người phụ nữ và đề cao gia đình là nền tảng xây
dựng quốc gia (Gammeltoft, 1999). Các khẩu hiệu như “Giỏi việc nước, đảm việc
nhà” và sự miêu tả chủ nghĩa dân tộc Việt Nam thông qua hình ảnh giới bao gồm
phụ nữ với tư cách là người mẹ của dân tộc, luôn hy sinh lợi ích của bản thân
vì gia đình và quốc gia (Werner, 2009; Leshkowich, 2012). Trong nghiên cứu của
Werner (2009) được thực hiện vào cuối những năm 1990 tại một huyện nông thôn
ngoại thành Hà Nội, hầu hết phụ nữ và nam giới được phỏng vấn đã định nghĩa
bình đẳng giới là phụ nữ có cơ hội bình đẳng để tham gia vào các hoạt động sản
xuất, đóng góp vào thu nhập gia đình và giúp phát triển đất nước. Do đó, phụ nữ
được đề cao với tư cách vừa là người gìn giữ hạnh phúc gia đình, vừa là công
dân hữu ích cho xã hội. Đó là một tiêu chuẩn kép áp lên phụ nữ trong khi không
bắt buộc đối với nam giới những người mà vai trò chăm sóc con cái được cho là
mâu thuẫn với vai trò trụ cột kinh tế hay người kiếm thu nhập chính cho gia
đình. Người phụ nữ có vai trò nòng cốt trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình
thông qua những đóng góp kinh tế của mình cho gia đình, sinh con và giáo dục
con cái (Locke, Nguyen và Nguyen, 2012; Rydstrom, 2006). Diễn ngôn của nhà nước
vẫn là xây dựng một hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với đức tính hy sinh, sự tận
tụy và chịu thương, chịu khó. Người phụ nữ tin rằng, những đức tính đó chính là
chìa khóa để duy trì đạo đức gia đình và sự hòa thuận (Werner, 2009).
Đáng chú ý, diễn ngôn chính trị - đạo đức
trong các chương trình truyền thông không đơn thuần là phản ánh hiện thực xã hội,
mà còn tham gia tích cực vào việc thiết lập và duy trì các trật tự giới. Từ các
bản tin thời sự, phim truyền hình, chương trình phát thanh đến các chiến dịch cổ
động chính trị - văn hóa, hình tượng người phụ nữ vẫn được xây dựng theo mẫu
hình lý tưởng hóa - như biểu tượng của sự hy sinh, kiên cường, nhẫn nại, và tận
tụy với gia đình. Các chương trình truyền hình thường xây dựng hình ảnh người mẹ
gắn với bếp núc, dạy con, chăm sóc chồng. Họ đồng hóa thành công của phụ nữ với
sự hy sinh thầm lặng trong gia đình. Các khẩu hiệu như “Phụ nữ Việt Nam: Trung
hậu - Đảm đang”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà"... không chỉ mang tính tán
dương mà còn quy định những chuẩn mực đạo đức định hình hành vi, từ đó hợp thức
hóa trật tự giới đương đại. Những diễn ngôn về người phụ nữ trong truyền thông
đương đại đã trở thành một “quyền lực vi mô" (micro-politics of power)
(Foucault, 1978) - tức là quyền lực phi
chính thống chi phối đời sống thường nhật. Khi những hình ảnh về người phụ nữ
lý tưởng xuất hiện lặp đi lặp lại trong truyền thông nhà nước, chúng không đơn
thuần là sự phản ánh văn hóa, mà chính là hình thức kiến tạo văn hóa (cultural
construction). Thông qua đó, những lựa chọn của phụ nữ bị giới hạn trong một
không gian đạo đức hóa, nơi sự tận tụy và hy sinh trở thành chuẩn mực và là điều
kiện để được công nhận trong xã hội. Diễn ngôn này, do đó, không chỉ mang tính
chất mô tả hay biểu tượng, mà còn đóng vai trò như một công cụ thiết chế hóa
(institutionalizing discourse¹), qua đó nhà nước và các thiết chế truyền thông
đại chúng đồng thời duy trì trật tự xã hội và hợp pháp hóa phân công lao động
giới bất bình đẳng.
Khuôn mẫu văn hóa giới truyền thống và các
diễn ngôn của truyền thống hiện đại đã tạo nên áp lực kép cho người phụ nữ hiện
đại. Họ vừa được kì vọng đóng góp vai trò kinh tế, vừa phải đảm nhiệm vai trò
chăm sóc gia đình. Chính áp lực đó đã buộc những người phụ nữ trung lưu đô thị
lựa chọn hình thức thuê giúp việc như một cấu trúc hỗ trợ ngầm, đảm nhiệm phần
chăm sóc việc nhà (nhưng không được công nhận về mặt thể chế lẫn xã hội) của họ.
Lúc này, người phụ nữ nông thôn đóng vai trò là “người đóng thế” cho người phụ
nữ đô thị để nhằm mục đích hoàn thiện trách nhiệm và những kì vọng xã hội dành
cho người phụ nữ thành đạt. Người giúp việc đảm đương một phần công việc của
người nữ lao động nhưng trong vai trò thầm lặng và không được công nhận. Chính
hệ hình đạo đức chính trị, nơi đạo lý và văn hóa tán dương sự tận tụy của người
phụ nữ như một phần cấu thành bản sắc quốc gia, lúc này, vô tình lại đẩy những
người phụ nữ thuộc các giai tầng khác nhau vào trong một mối quan hệ bất bình đẳng.
Nghề lao động giúp việc gia đình vì thế không chỉ là một công việc đơn thuần,
mà là nơi diễn ra sự tái cấu trúc trách nhiệm chăm sóc, trong đó phụ nữ thành
thị - do áp lực công việc và kỳ vọng kép - thuê lại chính trách nhiệm của mình
cho một người phụ nữ khác, thường là nông dân di cư.
Ngoài ra, công việc giúp việc gia đình được
coi là một công việc thuộc về “chăm sóc gia đình”. Theo Razavi (2007), nền kinh
tế chăm sóc bao gồm cả lao động được trả lương và không trả lương, tái sản xuất
sức lao động và chăm sóc cuộc sống hằng ngày. Việc quảng bá hình ảnh người phụ
nữ Việt Nam như người gìn giữ hạnh phúc gia đình, người mẹ nhân hậu, người vợ
hiền thục, đã đóng vai trò như một “cơ chế điều chỉnh chuẩn mực” (normative
regulator), khiến cho hành vi chăm sóc trở thành một phần cấu thành bản sắc giới
hơn là một lao động xã hội. Vì thế, khi người phụ nữ nông thôn đảm đương công
việc chăm sóc, tức là khi việc chăm sóc vốn là một công việc không được trả
lương khi được thương mại hóa - như trong trường hợp lao động giúp việc - thì
giá trị công việc của họ vẫn bị đánh giá thấp. Ngoài ra, các khuôn mẫu giới
tính được củng cố bởi diễn ngôn chính trị - đạo đức trong các chương trình truyền
thông và giáo dục công chúng càng làm sâu sắc thêm tính chất bất bình đẳng
trong lao động chăm sóc. Điều này cũng dẫn đến sự ngụy trang của quan hệ lao động
trong vai trò “giúp việc gia đình”, khiến các yêu cầu về quyền lao động, điều
kiện làm việc hay công nhận nghề nghiệp trở nên mờ nhạt trong đời sống chính
sách và nhận thức xã hội. Họ thường tự xác định bản thân như người thân trong
gia đình chủ nhà thay vì là một người lao động hợp đồng. Hệ quả là, trong nhiều
trường hợp, các quan hệ lao động không được mặc cả hay thương lượng minh bạch
mà diễn ra dưới hình thức đạo lý, tình cảm hoặc lòng biết ơn - những hình thức
vốn dễ dẫn tới sự không minh thị. Đây là đặc trưng nổi bật của hình thức “thân
hóa quan hệ lao động” (personalization of labor relations2), rất phổ
biến trong khu vực chăm sóc không chính thức ở các quốc gia châu Á.
Công việc giúp việc gia đình được coi là một công việc thuộc về “chăm sóc gia đình”.
Nguồn: hình minh hoạ tạo bởi Trí tuệ nhân tạo (AI)
Dưới lăng kính phân tích bất bình đẳng giới,
có thể thấy rằng nghề này là nơi mà các trục phân biệt đối xử (giới, giai cấp,
nông thôn - thành thị) giao cắt. Người lao động nữ giúp việc không chỉ đối mặt
với điều kiện làm việc thiếu bảo vệ, mà còn bị gắn với các định kiến tiêu cực
như thiếu giáo dục, kém văn minh, dễ bị kiểm soát. Điều này được duy trì không
chỉ trong các diễn ngôn phổ biến mà còn trong các tương tác hằng ngày giữa người
lao động và chủ hộ.
Trong một xã hội đang đô thị hóa và toàn cầu
hóa nhanh chóng như Việt Nam, việc xây dựng lại cách tiếp cận với nghề lao động
giúp việc gia đình đòi hỏi sự thay đổi không chỉ về chính sách, mà cả trong
cách hiểu về giá trị của lao động chăm sóc - cả về mặt kinh tế lẫn biểu tượng.
Sự thay đổi này chỉ có thể bắt đầu từ việc phá vỡ những định nghĩa cứng nhắc về
giới, tái thẩm định giá trị của lao động phi chính thức và đưa các chủ thể bị gạt
ra ngoài lề trở lại trung tâm của các phân tích xã hội học và chính sách công.
Chỉ khi đó, nghề lao động giúp việc gia đình mới có thể được tái định nghĩa như
một phần thiết yếu trong cấu trúc chăm sóc quốc gia - không phải ở ngoại vi, mà
ở vị trí trung tâm của hệ thống sinh kế và phúc lợi xã hội hiện đại.
Vai trò của các thiết chế xã hội, các
chính sách và khung pháp lý đối với nghề giúp việc gia đình tại Việt Nam
Nghề giúp việc gia đình tại Việt Nam không
thể được hiểu chỉ như kết quả tất yếu của thị trường lao động, mà còn là sản phẩm
của quá trình tương tác giữa các thiết chế xã hội - từ gia đình, cộng đồng, đến
nhà nước và các tổ chức quốc tế. Các thiết chế này đóng vai trò không chỉ trong
việc tổ chức, điều tiết và giám sát nghề nghiệp, mà còn trong việc định nghĩa
các khuôn mẫu đạo đức, trách nhiệm và giá trị biểu tượng gắn với công việc chăm
sóc.
Gia đình - thiết chế cốt lõi trong xã hội
Việt Nam - thường đóng vai trò kép: vừa là nơi phát sinh nhu cầu thuê giúp việc,
vừa là không gian đạo đức hóa quan hệ lao động. Trong nhiều trường hợp, mối
quan hệ giữa người giúp việc và chủ hộ được tái cấu trúc như mối quan hệ thân tộc,
làm mờ đi ranh giới giữa chăm sóc và lao động, giữa tình cảm và nghĩa vụ kinh tế.
Chính từ đây, các hình thức như tăng thời gian làm việc, thiếu thỏa thuận rõ
ràng, hay kiểm soát sinh hoạt được biện minh bằng các chuẩn mực đạo đức như
“coi như người nhà”.
Ở cấp độ chính sách, Nhà nước Việt Nam đã
có những bước đi ban đầu nhằm đưa nghề giúp việc gia đình vào khung pháp lý
chính thức. Bước ngoặt đánh dấu sự thừa nhận chính thức của Nhà nước là việc
ban hành Bộ luật Lao động năm 2012, lần đầu tiên quy định riêng về lao động
giúp việc gia đình trong các điều khoản từ Điều 161 đến Điều 165. Những quy định
này được duy trì và cập nhật trong Bộ luật Lao động 2019, trong đó xác định rõ:
người giúp việc gia đình là một loại lao động có quan hệ thuê mướn, có quyền ký
hợp đồng lao động và được hưởng các quyền cơ bản như thời giờ làm việc, thời
gian nghỉ ngơi, tiền lương, và bảo hiểm xã hội nếu có hợp đồng dài hạn.
Tuy nhiên, khung pháp lý hiện hành vẫn còn
nhiều giới hạn. Thứ nhất, tính khả thi thấp do môi trường làm việc đặc thù
trong hộ gia đình khiến việc giám sát và kiểm tra khó thực hiện. Thứ hai, các
điều khoản mang tính khuyến nghị và đạo lý nhiều hơn là ràng buộc pháp lý. Ví dụ,
quy định chủ nhà “tạo điều kiện để người lao động tham gia sinh hoạt văn hóa”
hay “đối xử tôn trọng” mang tính đạo đức hơn là cơ sở để thực thi quyền. Thứ
ba, không có cơ chế cưỡng chế hiệu quả nếu người sử dụng lao động vi phạm hợp đồng
hoặc từ chối ký kết. Ngoài ra, người lao động giúp việc gia đình không được tiếp
cận các thiết chế công đoàn, không có tổ chức đại diện lợi ích độc lập, và
không có khả năng thương lượng tập thể.Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam vẫn
chưa phê chuẩn Công ước 189 của ILO về lao động giúp việc là một điểm nghẽn
pháp lý nghiêm trọng. Công ước này đưa ra các tiêu chuẩn quốc tế cụ thể về điều
kiện làm việc, bảo vệ khỏi bóc lột, thời gian nghỉ và tiếp cận an sinh xã hội
cho người giúp việc - vốn là những khía cạnh còn rất mờ nhạt trong luật Việt
Nam. Thiếu vắng sự cam kết quốc tế đồng nghĩa với việc người lao động trong
lĩnh vực này không có được những chuẩn mực tối thiểu được công nhận toàn cầu.
So với các quốc gia Đông Nam Á như
Philippines hay Indonesia - nơi có các chương trình xuất khẩu lao động giúp việc
gia đình với quy chuẩn hợp đồng rõ ràng, cơ chế phái cử và giám sát của nhà nước,
thì nghề giúp việc tại Việt Nam chủ yếu phát triển tự phát và thiếu hệ thống điều
tiết hiệu quả. Việt Nam chưa có thiết chế độc lập để đại diện tiếng nói cho người
lao động trong lĩnh vực này. Sự thiếu vắng khung pháp lý đầy đủ, cùng với các
rào cản tiếp cận phúc lợi xã hội như bảo hiểm, hộ khẩu và quyền thương lượng,
càng khoét sâu tình trạng bấp bênh của nghề này. Dữ liệu từ GFCD (2012, 2013)
và ILO (2015) cho thấy phần lớn lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam là phụ
nữ di cư làm việc không có hợp đồng lao động chính thức, không được đảm bảo nghỉ
phép, bảo hiểm y tế hay mức lương tối thiểu vùng. Điều này khiến họ trở thành một
trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất trong thị trường lao động phi chính thức.
Để giải quyết các hạn chế trên, nhiều
chuyên gia đề xuất cần có một đạo luật riêng về lao động chăm sóc trong hộ gia
đình, tách biệt khỏi Bộ luật Lao động chung, đồng thời xây dựng một cơ chế giám
sát chuyên biệt thông qua thanh tra lao động khu vực phi chính thức. Ngoài ra,
việc công nhận các mô hình tổ chức tự nguyện của người giúp việc, hỗ trợ pháp
lý lưu động và tạo mạng lưới kết nối giữa các thành phố - nơi tập trung nhiều
lao động nội trú - là các bước đi cần thiết để tiến tới chuyên nghiệp hóa và hợp
pháp hóa nghề này một cách toàn diện. Tuy nhiên, các quy định trong Bộ luật Lao
động 2012 và 2019 vẫn chủ yếu mang tính biểu tượng, thiếu cơ chế giám sát và chế
tài cụ thể.
Thực tiễn triển khai chính sách cho thấy sự
lệch pha giữa văn bản pháp luật và năng lực thực thi, đặc biệt trong môi trường
làm việc phi tập trung và có tính riêng tư cao như hộ gia đình. Trong khi đó,
các tổ chức xã hội - bao gồm công đoàn, tổ chức nữ công hay các tổ chức phi
chính phủ - chưa có điều kiện hoặc quyền hạn để can thiệp hiệu quả vào lĩnh vực
này. Dù nghề giúp việc gia đình đã trở thành một phần không thể thiếu trong cấu
trúc chăm sóc của đô thị hiện đại, khung pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này tại Việt
Nam vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập sâu sắc, phản ánh không chỉ sự chậm trễ
trong việc thể chế hóa một hình thức lao động phổ biến, mà còn là biểu hiện của
những xung đột cấu trúc giữa diễn ngôn pháp quyền và các quan niệm văn hóa - đạo
đức truyền thống về chăm sóc. Tình trạng này còn bị duy trì bởi tư duy “gia
đình hóa phúc lợi”, trong đó trách nhiệm chăm sóc vẫn được coi là nghĩa vụ đạo
đức trong phạm vi gia đình, hơn là một lao động có giá trị xã hội và cần được
công nhận. Chính tư duy này khiến các thiết chế bảo vệ lao động giúp việc (như
nghiệp đoàn, đường dây phản ánh, hỗ trợ pháp lý) không được xây dựng và đầu tư
đúng mức. Các chương trình đào tạo, chuẩn hóa nghề nghiệp, hay cấp chứng chỉ kỹ
năng - vốn đã được thực hiện ở nhiều quốc gia trong khu vực - vẫn vắng bóng tại
Việt Nam. Điều này khiến người lao động bị rơi vào trạng thái “phi chuyên môn
hóa có hệ thống”. Cuối cùng, việc thiếu các nghiên cứu định lượng và điều tra
quốc gia có hệ thống về nghề giúp việc gia đình cũng khiến chính sách không có
cơ sở dữ liệu đủ mạnh để thiết kế can thiệp phù hợp. Các cuộc khảo sát hiện nay
chủ yếu do các tổ chức xã hội dân sự thực hiện quy mô nhỏ, trong khi hệ thống
thống kê nhà nước vẫn chưa có mã hóa rõ ràng về nghề nghiệp này trong phân loại
lao động quốc gia. Việc nghề giúp việc bị “ẩn danh” trong hệ thống dữ liệu phản
ánh mức độ thấp của sự công nhận thể chế, và kéo theo đó là sự mờ nhạt trong lập
pháp và phân bổ nguồn lực bảo vệ.
Do đó, nếu muốn cải thiện thực trạng nghề
giúp việc, Việt Nam cần có chiến lược pháp lý hóa toàn diện, vượt khỏi tư duy đạo
lý hóa và tiến tới coi chăm sóc như một lĩnh vực lao động thiết yếu. Điều này
đòi hỏi sự kết nối giữa khung luật quốc gia với các cam kết quốc tế, đầu tư vào
cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thiết kế các công cụ giám sát linh hoạt (như cơ chế
phản ánh ẩn danh, điều tra xã hội học độc lập), và quan trọng nhất là thừa nhận
người giúp việc như một chủ thể chính trị - pháp lý đầy đủ trong cấu trúc chăm
sóc quốc gia.
*
*
*
Nghề giúp việc gia đình tại Việt Nam không
còn đơn thuần là một hoạt động phụ trợ trong sinh kế đô thị mà đã trở thành một
mắt xích quan trọng trong cơ chế tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, tính chất vô
hình của lao động chăm sóc, sự lồng ghép giữa không gian riêng tư và thị trường,
cùng với sự thiếu vắng một khung pháp lý hiệu lực, đã khiến nghề này bị đặt
trong một vùng xám - nơi người lao động vừa cần thiết nhưng lại không được công
nhận một cách đầy đủ. Các chính sách cải cách hậu Đổi mới, trong khi mở rộng tự
do kinh tế, lại để ngỏ khoảng trống phúc lợi và không tạo ra đủ thiết chế bảo vệ
các dạng lao động phi chính thức như giúp việc gia đình.
Cần tiếp cận nghề giúp việc không chỉ như một
hiện tượng kinh tế mà còn là vấn đề đạo đức, chính trị và công bằng xã hội. Việc
chuyển hóa nghề này từ một hoạt động “giúp đỡ” sang một công việc chăm sóc được
trả lương - với quyền, nghĩa vụ và bảo hộ tương xứng - là điều kiện để hướng tới
một xã hội chăm sóc toàn diện. Để làm được điều đó, Nhà nước cần phá vỡ giới hạn
giữa không gian công và tư, giữa đạo lý và pháp lý, giữa văn hóa và thiết chế,
để từ đó xây dựng một hệ sinh thái chăm sóc có tính bao trùm, công bằng và nhân
văn.
CHÚ THÍCH
¹ Thuật ngữ “institutionalizing discourse
(thể chế hóa diễn ngôn): Foucault là người đầu tiên phác họa mối quan hệ giữa
diễn ngôn và quyền lực, cho rằng diễn ngôn không chỉ là sản phẩm ngôn ngữ mà
còn là cơ chế kiến tạo chân lý xã hội, được thể chế hóa thông qua các cơ quan
như nhà nước, bệnh viện, nhà tù, giáo dục, v.v. Tuy ông không dùng cụm từ
“institutionalizing discourse", nhưng toàn bộ tác phẩm của ông - đặc biệt
“The Archaeology of Knowledge" (1969) và "Discipline and Punish"
(1975) - đều cho thấy cơ chế diễn ngôn được cài đặt trong thể chế.
2 “Personalization of labor relations” chỉ quá trình mà mối
quan hệ lao động - vốn dĩ mang tính hợp đồng, pháp lý, bình đẳng - bị làm mờ đi
bởi yếu tố cá nhân, tình cảm hoặc đạo đức hóa. Khái niệm này được phát triển
trong các công trình nghiên cứu của Bridget Anderson (2000) và Parreñas (2001).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anderson, B. (2000), Doing
the Dirty Work? The Global Politics of Domestic Labour. London: Zed Books.
Asia Foundation (2011), Civil
Society Development in Vietnam, Hanoi: Asia Foundation.
Beresford, M. (2003),
“Economic Transition, Uneven Development, and the Impact of Reform on Regional
Inequality”, in H. V. Luong, Postwar Vietnam Dynamics of a Transforming
Society, Rowman & Littlefield Publishers, Inc, pp. 55-80.
Bộ luật Lao động Việt Nam
(2012, 2019).
Foucault, M. (1978), The
History of Sexuality, Vol. 1. New York: Pantheon Books.
Gammeltoft, Tine. (1999),
Women’s bodies, women’s worries: health and family planning in a Vietnamese
rural community. Richmond: Curzon Press.
GFCD. (2012, 2013), Điều kiện
lao động và chính sách đối với người giúp việc gia đình tại Việt Nam, Hà Nội.
HealthBridge (2008), The
impacts of labour export on family life in Thai Binh, Hanoi: HealthBridge
Canada.
ILO. (2015), Labour
Protection for Domestic Workers in Asia and the Pacific: Policies and
Practices. Geneva: International Labour Office.
Lê Kim Sa (2022), “Sự đa dạng
về nhận thức và thực tiễn phát triển của tầng lớp trung lưu Việt Nam”, Tạp chí
Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, số tháng 9.
Leshkowich, A. M. (2012),
“Essential Trade: Vietnamese Women in a Transnational Marketplace.” American
Ethnologist, 39 (1), 86-101.
Locke, C.; Nguyen, T. N.;
Nguyen, T. T. (2012), “Visiting Marriages and Remote Parenting: Changing
Strategies of Rural Urban Migrants to Hanoi”, Journal of Development Studies,
Vol. 48 (1), pp. 10-25.
Long, L. D., et al. (2000),
Gender, Household and State in Post-reform Vietnam. Southeast Asia Research, 8
(3), 245-283.
Luong, V. H. (2003), “Gender
relations: Ideologies, Kinship Practices and Political Economy”, in H. V. Lương
(ed.), Postwar Vietnam: dynamics of a transforming society, Boulder, CO: Rowman
& Littlefield, pp. 201-224.
McKinsey & Company
(2021), Tương lai Châu Á: Diện mạo mới của người tiêu dùng Việt, Hà Nội.
Nguyen, T. N. M. (2012), "“Doing Ô Sin”: Rural Migrants Negotiating Domestic Work in Ha Noi”, Journal of
Vietnamese Studies, Vol. 7 (4), pp. 32-62.
Parreñas, R. S. (2001),
Servants of Globalization: Women, Migration and Domestic Work. Stanford, CA:
Stanford University Press.
Razavi, S. (2007), The
Political and Social Economy of Care in a Development Context. UNRISD, Geneva.
Rydstrom, H. (1998),
Embodying Morality: Girls’ Socialization in a Northern Vietnamese Commune,
Sweden: The Department of Child Studies.
Tran, T. V. A; Le, N. H.
(1997), Women and Doi Moi in Vietnam, Hanoi: Woman Publishing House.
Werner, J. (2009), Gender,
Household and State in Post-reform Vietnam. London: Routledge.
World Bank, Asian Development
Bank, UK Department for International Development, Canadian International
Development Agency, 2006.
Bài viết đầy đủ có tại:
Viện Nghiên cứu Văn hóa, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Văn hóa Việt Nam
trong các chiều kích biến đổi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2025.