Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”: từ giá trị văn hóa truyền thống đến thể chế an sinh xã hội
“Uống nước nhớ nguồn”, hay đạo lý tri ân cội nguồn, là đạo lý do cha ông ta trao lại, là truyền thống vốn đã trở thành niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam. Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, đạo lý đó đã được nâng lên tầm cao mới, trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, được thể chế hóa thành hệ thống chính sách ưu đãi người có công - một trụ cột quan trọng của chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp của chế độ và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Nguồn:
Hình minh họa tạo bởi công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI)
Về đạo
lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc
Từ bao đời
nay, dân tộc Việt Nam luôn quan niệm rằng “Cây có cội, nước có nguồn”: con người
không thể tách rời cội nguồn sinh thành và dưỡng dục của mình. Bởi vậy, đạo lý
“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” đã trở thành một trong những
bài học đầu tiên về nhân cách, được truyền dạy từ gia đình đến nhà trường, mở đầu
cho những bài học luân lý và giáo dục công dân:
“Cây có gốc mới nở nhành xanh ngọn,
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu,
Người ta nguồn gốc từ đâu?
Có tổ tiên trước rồi sau có mình.”
Sinh thời,
khi thảo luận về việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam mang tính dân tộc, hiện đại,
cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đạo lý dân tộc là phần tinh túy
nhất của di sản văn hóa cha ông để lại” (Nguyễn Phú Trọng, 2002: 42, 137). Đồng
chí Hữu Thọ, khi bàn về các vấn đề văn hóa trong giai đoạn cách mạng mới, cho rằng
“Đạo lý dân tộc là loại văn hóa vô hình, nhưng là tinh túy của bản sắc dân tộc,
được vun đắp qua lịch sử lâu đời của dân tộc” (Hữu Thọ, 1998: 98). Trong nhiều
phương án phân loại các giá trị cơ bản, mang tính bản sắc của con người Việt
Nam - cũng có thể gọi là đạo lý dân tộc theo một góc độ nào đó, thì lòng nhân
ái và trọng tình nghĩa là những phầm chất thường được nhắc đến (bên cạnh các phẩm
chất tiêu biểu khác như lòng yêu nước nồng nàn, ý thức đoàn kết, ý thức cộng đồng,
đức tính cần cù…). Ở bình diện khái quát, “Uống nước nhớ nguồn” gắn với hai giá
trị cơ bản là lòng biết ơn (liên quan đến trọng tình nghĩa) và tinh thần tương
trợ (nhân ái). Nói một cách khách quan thì đây cũng là hai giá trị xuất hiện ở
nhiều nền văn hóa, tuy được biểu hiện dưới những hình thức khác nhau. Nếu lòng
biết ơn nhấn mạnh trách nhiệm ghi nhận và tri ân những cá nhân hoặc cộng đồng
đã tạo dựng điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, thì tinh thần
tương trợ đề cao nghĩa vụ giúp đỡ những người đang gặp khó khăn. Trong thực tiễn,
hai giá trị này không chỉ được thể hiện trong quan hệ giữa các cá nhân mà còn
được phản ánh qua nhiều thiết chế xã hội như hệ thống an sinh, chính sách ưu
đãi người có công hoặc các cơ chế bảo trợ dành cho nhóm yếu thế.
Theo
Richard M. Titmuss (1970), những nguyên tắc nền tảng của nhà nước phúc lợi
không được tạo ra bởi các thiết chế mà xuất phát từ những giá trị đạo đức vốn
đã tồn tại trong đời sống xã hội. Chính các giá trị ấy tạo nên cơ sở để cộng đồng
xác lập các chuẩn mực về trách nhiệm, nghĩa vụ và sự quan tâm lẫn nhau, trước
khi được thể chế hóa thành chính sách và các hình thức tổ chức xã hội. Nói cách
khác, các thiết chế không phải là nguồn gốc của các giá trị đạo đức mà là
phương tiện hiện thực hóa những giá trị đã được xã hội thừa nhận. R. Jawad
(2009) cho rằng mặc dù các giá trị đạo đức mang tính phổ quát, cách mỗi xã hội
diễn giải và thể chế hóa chúng luôn chịu ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử, văn
hóa và tôn giáo. Vì vậy, cùng một giá trị nền tảng như lòng biết ơn có thể được
biểu hiện bằng những thực hành văn hóa rất khác nhau ở mỗi quốc gia.
Trong bối
cảnh văn hóa-xã hội Việt Nam, “Uống nước nhớ nguồn” chính là sự cụ thể hóa giá
trị phổ quát ấy. Đạo lý này đề cao ý thức ghi nhớ, tôn vinh và tri ân những thế
hệ đi trước đã tạo dựng nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng. Ý
nghĩa của nó không dừng lại ở phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân mà còn trở
thành một nguyên tắc văn hóa chi phối nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội - điều
được thể hiện trong hệ thống chính sách ưu đãi người có công với cách mạng (Nhiều
tác giả, 2003), trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong phạm vi gia đình, dòng
họ (Hồ Liên, 2002), cũng như biểu tượng tổ tiên vĩ đại của người Việt (tiêu biểu
như thờ cúng các Vua Hùng), các bậc tiền nhân có công khai sơn mở cõi, khai nghề
lập nghiệp, các anh hùng dân tộc (Lưu Trần Tiêu, 2002). Dù khác nhau về hình thức
và phạm vi thực hành, các biểu hiện đó đều hướng tới việc duy trì mối liên hệ
giữa hiện tại với quá khứ và khẳng định sự tiếp nối truyền thống của cộng đồng
và quốc gia dân tộc.
Để lý giải
vì sao đạo lý này có thể được duy trì bền vững qua nhiều thế hệ, cần xem xét
vai trò của cái gọi là “ký ức tập thể”. Maurice Halbwachs (1925, 1950) cho rằng
ký ức không tồn tại như năng lực riêng lẻ của mỗi cá nhân mà luôn được hình
thành và duy trì trong những khuôn khổ xã hội như gia đình, cộng đồng hay tôn
giáo. Nói cách khác, con người ghi nhớ quá khứ thông qua các mối quan hệ xã hội
và những thực hành được cộng đồng cùng chia sẻ. Từ góc nhìn này, các thực hành
tưởng niệm, thờ cúng không chỉ phản ánh đời sống tín ngưỡng mà còn là cơ chế xã
hội giúp lưu giữ và tái tạo ký ức tập thể. Émile Durkheim (1912) cho rằng các
nghi lễ định kỳ tạo ra trạng thái “sôi nổi tập thể” (effervescence collective),
qua đó củng cố sự gắn kết giữa các thành viên và tái khẳng định những giá trị
chung của cộng đồng. Tiếp nối lập luận này, Paul Connerton (1989) nhấn mạnh rằng
ký ức xã hội không chỉ được bảo tồn qua văn bản hay diễn ngôn mà còn thông qua
các nghi lễ tưởng niệm và những thực hành mang tính trình diễn. Chính sự lặp lại
của các nghi lễ giúp quá khứ tiếp tục hiện diện trong đời sống hiện tại, đồng
thời bảo đảm sự tiếp nối của các giá trị văn hóa qua nhiều thế hệ. Vì vậy, ký ức
tập thể không phải là sự lưu giữ nguyên vẹn những sự kiện đã qua mà là quá
trình tái kiến tạo liên tục, trong đó quá khứ vừa được gợi nhớ, vừa được diễn
giải lại để phù hợp với bối cảnh xã hội đương thời.
Sự kết nối
giữa các cấp độ ký ức xã hội đã tạo nên nền tảng để đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
được duy trì như một cơ chế văn hóa xuyên suốt từ gia đình đến quốc gia. Như
nhiều học giả đã đề cập trong nghiên cứu về người Việt, trong phạm vi gia đình
và dòng họ, nghi lễ thờ cúng tổ tiên góp phần duy trì quan hệ huyết thống, củng
cố đạo hiếu và nhắc nhở trách nhiệm của mỗi thành viên đối với cộng đồng thân tộc
(Lương Văn Hy, 1992). Khi mở rộng ra phạm vi làng xã, các lễ hội truyền thống
và nghi lễ cộng đồng tiếp tục tạo nên sự gắn kết giữa các cá nhân trong cùng một
không gian văn hóa và đạo đức (Malarney, 2002). Ở cấp độ quốc gia, tín ngưỡng
thờ cúng các bậc tiền nhân và việc tôn vinh các anh hùng dân tộc mở rộng phạm
vi của ký ức tập thể từ cộng đồng huyết thống sang cộng đồng dân tộc. Đó có thể
xem là sự phát triển hay mở rộng của truyền thống tôn kính tổ tiên vốn từ lâu
được xem là một thành tố quan trọng trong hệ giá trị văn hóa của người Việt
(Phan Ngọc, 1994). Giá trị này không chỉ được bảo tồn như một di sản văn hóa mà
còn trở thành nguồn lực biểu tượng góp phần củng cố ý thức cộng đồng và giáo dục
các thế hệ kế tiếp (Dror, 2018). Nhìn từ góc độ đó, “Uống nước nhớ nguồn” là một
cơ chế văn hóa thông qua đó xã hội Việt Nam gìn giữ ký ức tập thể, củng cố bản
sắc dân tộc và duy trì sự gắn kết giữa các thế hệ.
Sự thể
chế hóa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” qua hệ thống chính sách người có công
Văn hóa
là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng,
tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay là
làm sao thể chế hóa được các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc
trên cơ sở kế thừa, chọn lọc và phát huy những tinh hoa phù hợp với chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ
mới. Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng, được quán triệt sâu sắc trong đường
lối lãnh đạo của Đảng và được cụ thể hóa trong quá trình xây dựng, hoàn thiện
thể chế văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình
Việt Nam và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới.
Ở một góc
độ khác, việc thể chế hóa các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc
không chỉ là nhiệm vụ của lĩnh vực văn hóa mà còn là nội dung quan trọng, xuyên
suốt trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Trong đó, chính
sách đối với người có công là một biểu hiện sinh động, cụ thể của sự kết hợp
hài hòa giữa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” (cách gọi khác là “Đền ơn đáp
nghĩa”) với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong
giai đoạn mới. Nhận thức này có sức ảnh hưởng vô cùng sâu sắc, đến mức mà trên
báo chí và các phương tiện truyền thông, trên các xuất bản phẩm và thậm chí là
trong một số văn bản mang tính chất hành chính, chính sách thương binh, liệt sĩ
hoặc chính sách người có công ở Việt Nam đôi khi còn được gọi với cái tên khác
là “Chính sách Uống nước nhớ nguồn”, “Chính sách Đền ơn đáp nghĩa”, và đó cũng
là loại chính sách độc nhất cho đến nay ở Việt Nam có thể được gọi với cái tên
mang tính chất tu từ như vậy! Đây là quá trình chuyển hóa từ chuẩn mực đạo đức
truyền thống thành chuẩn mực pháp lý và trách nhiệm chính trị, bảo đảm việc tri
ân những người đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc được thực hiện
một cách thống nhất và hiệu quả. Đồng thời, quá trình này cũng phản ánh sự kết
hợp biện chứng giữa truyền thống nhân văn của dân tộc với yêu cầu xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó việc chăm lo người có công không chỉ
là biểu hiện của tình cảm và lương tri xã hội mà còn là trách nhiệm pháp lý của
Nhà nước, trách nhiệm chính trị của cả hệ thống chính trị và nghĩa vụ đạo đức của
mỗi công dân.
Ngay từ
những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong bối cảnh đất nước
vừa giành được độc lập và đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn của cuộc
kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã đặc biệt quan tâm đến công
tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Tháng 2-1947, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20 quy định chế độ “Hưu bổng, thương tật và tiền
tuất cho thân nhân tử sĩ”, đặt nền móng cho chính sách ưu đãi người có công của
Nhà nước. Tiếp đó, tại Hội nghị bàn về công tác thương binh, liệt sĩ tổ chức ở
Đại Từ (Thái Nguyên) vào tháng 6-1947, Người chỉ thị lấy ngày 27-7 hằng năm làm
“Ngày Thương binh toàn quốc” (đến năm 1955 đổi tên thành Ngày Thương binh - Liệt
sĩ). Trong bản Di chúc lịch sử, Người căn dặn: “Đối với những người dũng
cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích…),
Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn…
Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa
và bia tưởng niệm ghi công sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo
dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh
và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu
ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có
công việc làm ăn ổn định, quyết không để họ bị đói rét” (Hồ Chí Minh, 2011:
616). Những lời căn dặn đó vừa thể hiện tầm nhìn nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, vừa đặt nền tảng cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách ưu đãi người
có công ở nước ta sau này.

Chủ
tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã tới đặt vòng
hoa viếng các liệt sĩ tai Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, ngày 02/9/1955
Ảnh
tư liệu (Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc
gia)
Tinh thần
ấy nhanh chóng được hiện thực hóa bằng các văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà
nước cách mạng. Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/2/1947 quy định chế độ hưu bổng,
thương tật và tiền tử tuất đối với quân nhân đánh dấu bước khởi đầu của quá
trình pháp điển hóa chính sách ưu đãi người có công, đồng thời khẳng định sự
quan tâm của Nhà nước đối với những người trực tiếp tham gia chiến đấu, hy sinh
và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Việc ban hành sắc lệnh trong điều kiện đất
nước còn vô cùng khó khăn cho thấy quan điểm nhất quán của Đảng và Chính phủ:
dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, công tác chăm lo người có công luôn là nhiệm vụ
chính trị quan trọng, thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Cũng trong năm 1947, Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7) được xác lập và duy trì
cho đến ngày nay như một sự kiện chính trị - xã hội mang tính biểu tượng của đạo
lý “Uống nước nhớ nguồn”.
Trong
hoàn cảnh kinh tế đất nước còn nghèo, “cơm no, áo ấm” vẫn chưa lo toan đầy đủ
cho mọi người dân, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn cố gắng cùng với toàn dân bảo đảm
cho mỗi gia đình thương binh, liệt sĩ cũng như bản thân những cá nhân đang phải
chịu dựng hậu quả chiến tranh có một cuộc sống ổn định , tạo ra những tiền đề vật
chất - tinh thần để phát triển. Những động thái này cũng có ý nghĩa to lớn
trong bối cảnh Việt Nam thời hậu chiến, vì chúng góp phần giải quyết sự đứt gãy
sâu sắc về mặt xã hội, tâm lý do chiến tranh để lại. Việc tưởng niệm liệt sĩ,
chăm sóc thương binh cùng thân nhân, gia đình của họ giúp tái tạo mối liên kết
giữa người sống và người đã khuất, giữa quá khứ và hiện tại, cũng như tạo ra
không gian để tăng cường mối liên kết về mặt đạo đức giữa Nhà nước, xã hội đến
từng gia đình, cá nhân (Kwon, 2006).
Trải qua
các thời kỳ cách mạng, cùng với sự phát triển của đất nước và yêu cầu của từng
giai đoạn lịch sử, chủ trương của Đảng về công tác người có công không ngừng được
bổ sung, hoàn thiện cả về nhận thức lý luận lẫn nội dung chính sách. Nếu trong
giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc, trọng tâm là bảo đảm đời sống và động
viên tinh thần đối với thương binh, gia đình liệt sĩ thì trong thời kỳ đổi mới,
chính sách người có công được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển, gắn kết
chặt chẽ với mục tiêu thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã xác định yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát
triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi
và từng chính sách phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986), không chỉ tạo cơ
sở lý luận cho việc đổi mới chính sách xã hội trong thời kỳ mới nói chung mà
còn định hướng việc hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công theo hướng bảo đảm
ngày càng đầy đủ hơn các quyền lợi về vật chất, tinh thần cũng như điều kiện
hòa nhập xã hội, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tinh thần này tiếp tục được khẳng định trong văn kiện Đại hội XIII và XIV gần
đây của Đảng, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chăm lo toàn diện đối với người có
công với cách mạng, phấn đấu bảo đảm mức sống của người có công và gia đình người
có công đạt mức trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2021: 146; Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026: 267). Mục tiêu an sinh xã hội như
vậy đã thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng về sự công bằng trong thụ hưởng
thành quả phát triển và sự tri ân xứng đáng đối với những cống hiến to lớn vì đất
nước.
Một bước
phát triển quan trọng trong quá trình thể chế hóa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
là việc Hiến pháp đã quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tôn
vinh, khen thưởng, phụng dưỡng và thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có
công với nước. Quan điểm này có sự kế thừa và phát triển liên tục qua các bản
Hiến pháp trước. Ngay từ Hiến pháp 1946, tinh thần tôn vinh những người có công
với dân tộc đã được thể hiện gián tiếp qua các quy định về quyền lợi công dân
và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ thành quả cách mạng, chăm lo đời
sống nhân dân sau kháng chiến. Hiến pháp 1959 tiếp tục khẳng định nguyên tắc
bình đẳng và quyền lợi của công dân, nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc
cải thiện điều kiện sống cho những người tham gia lao động và đấu tranh cách mạng.
Đến Hiến pháp 1980, nội dung này được cụ thể hơn trong bối cảnh xây dựng chủ
nghĩa xã hội, với các quy định về bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ
các tầng lớp nhân dân có đóng góp đặc biệt. Đặc biệt, Hiến pháp 1992 đã đưa ra
quy định trực tiếp và rõ nét nhất ở thời điểm đó tại Điều 67 (Chương V - Quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân): “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được
hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. [...] Những người và gia đình có công
với nước được khen thưởng, chăm sóc”. Việc Hiến pháp 2013 kế thừa và nâng tầm
các quy định này đã khẳng định vị trí đặc biệt của chính sách người có công
trong hệ thống chính sách xã hội mà còn tạo cơ sở hiến định vững chắc hơn để
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan. Tức là, việc chăm lo người
có công không còn chỉ là yêu cầu về đạo đức hay trách nhiệm chính trị mà được bảo
đảm bằng những quy định pháp lý có giá trị bắt buộc thi hành, góp phần nâng cao
hiệu lực quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có công. Trên
cơ sở đó, Pháp lệnh Ưu đãi người có công (1994, 2005, 2020) cùng hàng loạt văn
bản hướng dẫn thi hành đồng bộ, giúp xác định rõ ràng phạm vi đối tượng thụ hưởng,
các tiêu chuẩn định lượng cụ thể cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
và tổ chức xã hội trong việc thực hiện chính sách.


Hội
nghị tri ân người có công với cách mạng toàn quốc năm 2026 (trong ảnh là các Cựu
chiến binh và Mẹ Việt Nam anh hùng dự Hội nghị)
Nguồn:
Báo điện tử Chính phủ
Bên cạnh
việc hoàn thiện thể chế, Đảng và Nhà nước luôn xác định công tác người có công
là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Quan điểm này xuất phát từ
nhận thức rằng sự tri ân đối với người có công không thể chỉ dựa vào nguồn lực
của Nhà nước mà cần được nuôi dưỡng bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, bằng trách nhiệm xã hội và sự chung tay của cộng đồng. Ngay từ Chỉ thị
số 07-CT/TW ngày 14/12/2006 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về tăng cường
sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác thương binh, liệt sĩ, người có công và phong trào
“Đền ơn đáp nghĩa”, Đảng đã khẳng định rõ yêu cầu đẩy mạnh xã hội hóa, huy động
mọi nguồn lực xã hội tham gia chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người có
công. Chỉ thị đã tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” lan tỏa
sâu rộng, trở thành nét đẹp văn hóa, đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”
của dân tộc. Tiếp nối và phát triển quan điểm đó, Chỉ thị số 14-CT/TW ngày
19/7/2017 của Ban Bí thư tiếp tục yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác người có công với cách mạng, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa việc huy động
các nguồn lực xã hội tham gia thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa.
Từ cơ sở
trên, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” được triển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước
với nhiều hoạt động thiết thực như xây dựng và phát triển Quỹ “Đền ơn đáp
nghĩa” ở các cấp; vận động đóng góp xây dựng, sửa chữa nhà tình nghĩa; phụng dưỡng
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; chăm sóc thương binh, bệnh binh nặng; hỗ trợ thân nhân
liệt sĩ; tổ chức thăm hỏi, tặng quà nhân các ngày lễ, Tết và ngày 27/7; đặc biệt
là công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu
thông tin... Theo số liệu tổng hợp, từ năm 2013 đến 2024, cả nước đã vận động
được gần 7.900 tỷ đồng từ Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” và các nguồn xã hội hóa khác;
xây dựng mới khoảng 67.700 căn nhà tình nghĩa và sửa chữa gần 45.900 căn nhà
cho gia đình người có công, với tổng kinh phí hỗ trợ trên 12.700 tỷ đồng; tặng
hơn 110.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa; đồng thời, 100% Bà mẹ Việt Nam Anh hùng
còn sống đều được các tổ chức, đơn vị nhận phụng dưỡng chu đáo về đời sống vật
chất và tinh thần (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, dẫn theo Báo Điện tử
Chính phủ, 2024). Những hoạt động này không chỉ góp phần cải thiện đời sống vật
chất và tinh thần của người có công mà còn tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ của đạo
lý “Uống nước nhớ nguồn” trong toàn xã hội, biến truyền thống tri ân thành hành
động cụ thể, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức và người dân, góp
phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.
*
* *
Thực tiễn
hơn tám thập niên bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước đã khẳng định quá
trình thể chế hóa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” thành hệ thống chủ trương của Đảng,
chính sách của Nhà nước và các thiết chế pháp luật là quá trình chuyển hóa một
giá trị văn hóa truyền thống thành động lực chính trị và nguồn lực phát triển
xã hội. Đó không chỉ là sự cụ thể hóa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc bằng
các công cụ quản lý nhà nước hiện đại mà còn là minh chứng sinh động cho bản chất
nhân văn, vì con người của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thông qua hệ thống
chính sách ưu đãi người có công, một trong những giá trị đạo đức truyền thống
quan trọng nhất của dân tộc ta được bảo đảm bằng pháp luật, được tổ chức thực
hiện bằng sức mạnh của cả hệ thống chính trị và được lan tỏa bằng sự đồng thuận
của toàn xã hội. Điều này không chỉ góp phần bảo đảm đầy đủ quyền và lợi ích của
người có công với cách mạng mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục truyền
thống yêu nước, bồi đắp lòng biết ơn, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Trong bối
cảnh đất nước tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế
sâu rộng, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công, nâng cao chất
lượng thực thi pháp luật và phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong công tác đền
ơn đáp nghĩa vẫn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, góp phần thực hiện mục tiêu
phát triển nhanh, bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và giữ vững ổn định
chính trị - xã hội của đất nước./.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Báo Điện
tử Chính phủ (2024), Thủ tướng: Đẩy mạnh công tác 'đền ơn đáp nghĩa' với
trách nhiệm lớn lao và nghĩa tình sâu nặng,
https://baochinhphu.vn/thu-tuong-day-manh-cong-tac-den-on-dap-nghia-voi-trach-nhiem-lon-lao-va-nghia-tinh-sau-nang-102240723113900021.htm
Connerton,
P. (1989), How Societies Remember, Cambridge University Press.
Dror, O.
(2018), Making Two Vietnam: War and Youth Identities, 1965–1975,
Cambridge University Press.
Durkheim,
É. (1912), Les Formes élémentaires de la vie religieuse, Félix Alcan.
Đảng Cộng
sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Đảng Cộng
sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Jawad, R.
(2009), Social Welfare and Religion in the Middle East: A Lebanese
Perspective, Bristol: Policy Press.
Halbwachs,
M. (1925), Les cadres sociaux de la mémoire, Félix Alcan.
Halbwachs,
M. (1950), La mémoire collective, Presses Universitaires de France.
Hồ Chí
Minh (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 15, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật,
Hà Nội.
Hồ Liên
(2002), Đôi điều về cái thiêng và văn hóa, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
Hữu Thọ
(1998), “Một số vấn đề văn hóa trong giai đoạn cách mạng mới”, in trong Những
vấn đề văn hóa Việt Nam hiện đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 71-110.
Kwon, H.
(2006), After the Massacre: Commemoration and Consolation in Ha My and My
Lai, University of California Press.
Luong, H.
V. (1992), Revolution in the Village: Tradition and Transformation in North
Vietnam, 1925–1988, University of Hawaii Press.
Lưu Trần
Tiêu (2000), “Giỗ tổ Hùng Vương - biểu hiện cao đẹp của đạo lý “uống nước nhớ
nguồn” của tư tưởng đại đoàn kết và thống nhất dân tộc”, Tạp chí Văn hóa Nghệ
thuật, Số 4, tr. 7-8.
Malarney,
S. K. (2002), Culture, Ritual, and Revolution in Vietnam, Routledge.
Nguyễn
Phú Trọng (2002), Vì một nền văn hóa Việt Nam dân tộc, hiện đại, Nxb.
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Nguyễn
Phú Trọng (2021), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật,
Hà Nội.
Nhiều tác
giả (2003), Uống nước nhớ nguồn: những điều cần biết về chính sách đối với
thương binh, liệt sĩ và người có công, Nxb. Lao động, Hà Nội.
Nora, P.
(1989), “Between Memory and History: Les Lieux de Mémoire”, Representations,
(26), 7–24.
Phan Ngọc
(1994), Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb. Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội.
Titmuss,
R. (1970), The Gift Relationship: From Human Blood to Social Policy,
George Allen & Unwin, London.
Chi
đoàn Viện Nghiên cứu Văn hóa