image banner
VI | EN
Sự thích ứng của người dân với tiêu chí nông thôn mới: nhìn từ thực hành tang ma ở ngoại thành Hà Nội
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Sự thích ứng của người dân với tiêu chí nông thôn mới: nhìn từ thực hành tang ma ở ngoại thành Hà Nội” của ThS. Lê Thị Phượng (Viện Nghiên cứu Văn hóa).
anh tin bai

Từ những năm 1960 cho đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định với mục tiêu xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh đến việc cải tạo và phát triển các giá trị văn hóa phù hợp với lí tưởng cách mạng và sự phát triển của đất nước. Một trong những nội dung quan trọng của việc xây dựng nền văn hóa mới là loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu nhằm thúc đẩy một xã hội văn minh, hiện đại. Cải cách những phong tục liên quan đến các nghi lễ đời người như cưới hỏi và tang ma là nội dung không thể thiếu bởi nó phản ánh sự thay đổi trong cách nhìn nhận và thực hành các giá trị văn hóa truyền thống. Các nghiên cứu về thời kì này (Malarney, 1996, 2002; Luong, 2010; Kleinen, 2013) đều cho thấy tác động nhất định của chính sách cải cách đối với đời sống văn hóa - xã hội. Song, ở một khía cạnh khác, các tác giả này cũng khẳng định xu hướng khôi phục các phong tục, tập quán, trong đó có tang ma, ngày càng trở nên mạnh mẽ từ sau Đổi mới khi mà người dân vừa tích cực thực hiện các chính sách của nhà nước, vừa “cố gắng tái tạo và xác định lại văn hóa và nghi lễ của mình” (Malarney, 2002: 1).

Cho đến khoảng chục năm trở lại đây, thông qua báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương ở ngoại thành Hà Nội, có thể thấy, phong tục, tập quán nói chung và thực hành tang ma nói riêng đã có những thay đổi rõ rệt theo chiều hướng “văn minh”, “tiến bộ” theo định hướng của nhà nước. Chẳng hạn, năm 2012, số ca hỏa táng của huyện Đông Anh là 60% thì đến năm 2022, tỉ lệ này đã tăng lên 97%(i); hoặc ở huyện Đan Phượng, tỉ lệ hỏa táng năm 2022 là hơn 70%(ii). Cùng với việc thực hiện chỉ thị số 27-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội (1998) thì đây cũng là thời gian mà các địa phương này cùng cả nước thực hiện chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới. Với những thay đổi trong thực hành việc tang so với thập kỉ trước, phải chăng, người dân thay đổi nếp nghĩ, họ đã thực sự thích ứng với các chủ trương, chính sách của nhà nước về tang văn minh?

Thích ứng (adaptation) hay thích ứng văn hóa (cultural adaptation) có thể được hiểu là quá trình mà các cá nhân, cộng đồng hoặc nhóm xã hội điều chỉnh hành vi, thực hành và lối sống cho phù hợp với những điều kiện mới về kinh tế, xã hội và môi trường. Nhiều nghiên cứu về sự thích ứng ở cả cấp độ cá nhân và cộng đồng (Leach, 1970; Keyes, 1977; Runco, 1999; Cohen, 2012...) đều khẳng định thích ứng không chỉ là sự tuân thủ theo các quy định, chính sách mà còn là sự điều chỉnh, sáng tạo và đôi khi là kháng cự để đảm bảo rằng những thực hành văn hóa được duy trì đồng thời phù hợp với bối cảnh mới. Keyes nghiên cứu cách các cộng đồng ở Đông Nam Á lục địa như Thái Lan, Lào, Myanmar, Việt Nam phản ứng với những thay đổi trong môi trường sống của họ trước những tác động từ bên ngoài trên cơ sở quan niệm: “văn hóa vừa là biểu hiện của sự thích nghi của con người với các điều kiện tồn tại của họ, vừa là một tập hợp các hành vi mà con người phải thích nghi” (Keyes 1977: 9). Ông chỉ ra rằng thích ứng văn hóa không chỉ là việc bảo tồn và duy trì các giá trị văn hóa truyền thống mà còn bao gồm việc sáng tạo và đổi mới trước những thách thức mới. Đây là một quá trình năng động, liên tục nhưng không phải là một chiều được áp đặt từ bên ngoài vào, từ bên trên xuống mà là một quá trình được thương thỏa, trong đó, cộng đồng địa phương tích cực tham gia và giải thích các ý tưởng mới.

Tiêu chí văn hóa của nông thôn mới

Sau hàng thập kỉ thực hiện chính sách đổi mới, cho đến đầu những năm 2000, đời sống kinh tế - xã hội khu vực nông thôn của Việt Nam chưa có sự thay đổi rõ rệt. Trên nhiều diễn đàn, nông thôn vẫn bị cho là khu vực lạc hậu, kém phát triển với những phong tục, lề thói cổ hủ, cần phải được hiện đại hóa, văn minh hóa. Với quan niệm đó, kể từ Đại hội VIII (1996), “hiện đại và văn minh được nhắc đến như một mục tiêu cho nhiệm vụ xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho khu vực nông thôn” (Nguyễn Công Thảo, 2020: 265). Đến Hội nghị trung ương 7 khóa X (2008), Nghị quyết số 26-NQ/TW “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã được ban hành và được cụ thể hóa bằng Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ. Chương trình này được triển khai từ năm 2010, là một chương trình phát triển nông thôn toàn diện và đồng bộ trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Với 19 tiêu chí, bao quát toàn bộ 5 lĩnh vực: quy hoạch; hạ tầng kinh tế xã hội; kinh tế và tổ chức sản xuất; văn hóa, xã hội và môi trường; hệ thống chính trị, chương trình không chỉ nhằm hiện đại hóa nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân mà còn hướng đến việc thay đổi cách nghĩ, cách làm cũng như thực hành văn hóa của họ. 

Trong 19 tiêu chí của nông thôn mới thì tiêu chí số 16 quy định nhiều khía cạnh trong đời sống văn hóa của khu vực nông thôn. Là một tiêu chí tập trung vào việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa ở nông thôn, tiêu chí 16 có vai trò định hình và củng cố nếp sống văn minh trong cộng đồng, loại bỏ các hủ tục, mê tín dị đoan đồng thời khuyến khích các thực hành văn hóa tốt đẹp. Để đạt được tiêu chí này thì các địa phương được công nhận nông thôn mới phải có từ 70% số thôn, làng, ấp, bản đạt danh hiệu văn hóa trở lên. Ngoài các tiêu chuẩn về đời sống kinh tế; môi trường cảnh quan; mức độ chấp hành đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tinh thần đoàn kết, tương trợ, làng văn hóa phải có đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú, tức là “có 70% trở lên hộ gia đình thực hiện tốt các quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không có hành vi truyền bá và hành nghề mê tín dị đoan” (Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL).

Tuy vậy, không phải cho đến khi chương trình nông thôn mới được triển khai, phong trào xây dựng làng văn hóa hay thực hiện nếp sống văn minh mới được thực hiện. Ngay sau khi Chỉ thị số 27-CT/TW được ban hành, các cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội cũng được phát động. Với tinh thần: “Bảo tồn có chọn lọc, cải tiến, đổi mới những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; loại bỏ dần trong cuộc sống những hình thức lỗi thời, lạc hậu” và “Xoá bỏ hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan”, Chỉ thị số 27-CT/TW đã trở thành nền tảng chính sách vững chắc để chương trình xây dựng nông thôn mới sau này, đặc biệt là tiêu chí 16 của chương trình, được triển khai trên phạm vi cả nước và nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Thực hành tang ma ở làng Kim(iii) trước xây dựng nông thôn mới

Là một làng quê ở ngoại thành Hà Nội, làng Kim cũng mang đậm truyền thống văn hóa và phong tục tập quán của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đối với dân cư nơi đây, đám tang không chỉ là nghi lễ tiễn đưa người đã khuất mà còn là dịp thể hiện tinh thần tương trợ, gắn kết cộng đồng. Tục lệ cải lương của làng Kim quy định, khi gia đình có người mất, tang chủ cắt cử người đến báo với hội đồng hương để hội cắt cử chấp hiệu, đô tùy cùng đồ tang nghi đến tang gia để tống táng. Song song với việc trình báo lên làng xã, tang chủ cũng cắt cử người đi xem ngày giờ tốt để khâm liệm và chôn cất. Đám tang được kéo dài trong hai ngày nếu người chết không mắc bệnh dịch hoặc một ngày nếu người chết bị bệnh truyền nhiễm. Theo quy trình thông thường, một đám tang bao gồm các nghi lễ: lễ mộc dục, lễ phạn hàm, lễ khâm liệm (nhập quan), lập bài vị, lễ thành phục và đưa tang. Các nghi lễ này có thể do các thành viên trong gia đình, dòng họ tự thực hiện hoặc do thầy cúng, pháp sư hướng dẫn để dẫn dắt vong linh, giúp linh hồn người quá cố sớm được an nghỉ và siêu thoát về cõi vĩnh hằng. Sau đám tang, tang chủ còn phải thực hiện các nghi lễ như lễ cúng 3 ngày, cúng thất, 49 ngày, 100 ngày, lễ giỗ đầu (tiểu tường), giỗ hết (đại tường). Cùng với các nghi lễ vốn có của một đám tang, xưa kia, khi gia đình có người mất, người dân làng Kim vẫn làm cỗ để đáp lại tình cảm của quan khách đến viếng và chia buồn, thường là hai bữa chính và hai hoặc ba bữa phụ dành cho những người phục vụ đám tang.

Sự thích ứng của người dân với các tiêu chí mới trong thực hành tang ma

Trên cơ sở chỉ thị 27-CT/TW, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ban hành Thông tư hướng dẫn các địa phương thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội với nội dung: “vận động nhân dân bỏ dần tục đội mũ rơm, chống gậy, rắc vàng mã dọc đường; xóa bỏ các hủ tục mê tín lạc hậu như yểm bùa, trừ tà, lăn đường, khóc mướn và những nghi thức rườm rà khác” (Thông tư số 04 ngày 11/7/1998). Thông tư cũng hướng dẫn việc tổ chức tang lễ và khuyến khích hỏa táng, điện táng, xây dựng nghĩa trang. Tuy nhiên, hiệu quả mang lại của những phong trào này chưa thực sự đáng kể bởi các phong tục, tập quán đã được người dân thực hành qua nhiều thế hệ, khó có thể thay đổi trong một thời gian ngắn. Để đưa chỉ thị của Chính phủ vào cuộc sống, năm 2008, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân huyện Đông Anh đã thông qua Nghị quyết số 30/NQ-HĐND và Kế hoạch số 59/KH-UBND về thực hiện việc tang văn minh tiến bộ. Với 4 nội dung: giảm ăn uống linh đình; xóa bỏ các hủ tục lạc hậu; quy hoạch nghĩa trang và thực hiện hỏa táng đồng thời có những cơ chế hỗ trợ cụ thể. Dù vậy, trên thực tế, người dân trên địa bàn huyện, trong đó có làng Kim, chỉ thích ứng với cách thức tổ chức đám tang và hình thức mai táng mới trong khoảng 7-8 năm trở lại đây, khi chương trình nông thôn mới được triển khai.

anh tin bai

- Thích ứng với cách thức tổ chức mới

Sau khi Nghị quyết 30/NQ-HĐND và Kế hoạch số 59/KH-UBND được triển khai, thực hành tang ma ở huyện Đông Anh nói chung, làng Kim nói riêng chưa thực sự có nhiều chuyển biến. Năm 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư 04/2011/TT-BVHTTDL với các quy định chi tiết dành cho các nghi thức tang ma như: khuyến khích sử dụng băng đĩa nhạc thay cho phường bát âm, hạn chế viếng bằng vòng hoa, rắc vàng mã, tiền âm phủ, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, hành vi mê tín dị đoan.... Thông tư này cùng với nghị quyết và kế hoạch của địa phương đã được cụ thể hóa vào quy ước mới của làng về xây dựng làng văn hóa nhằm điều chỉnh thực hành tang ma theo hướng văn minh, tiết kiệm và phù hợp với bối cảnh thực hiện các tiêu chí của nông thôn mới.

Với những quy ước mới, tang ma ở làng Kim đã có những thay đổi trong cách thức tổ chức dù vẫn tuân thủ các nghi lễ truyền thống. Để khuyến khích người dân thực hiện đám tang văn minh, làng đã thành lập một ban tang lễ do trưởng thôn làm trưởng ban. Khi trong làng có người qua đời, ban tang lễ đã đến động viên tang gia tổ chức đám tang theo quy ước của làng, đồng thời phối hợp với công ty dịch vụ tang lễ tổ chức đám tang cho người quá cố, sắp xếp việc hỏa táng và làm thủ tục nhận hỗ trợ của chính quyền.

Một trong những thay đổi rõ nhất trong tang ma ở làng Kim trong những năm gần đây là thời gian tổ chức lễ tang chỉ gói gọn trong 2 ngày. Trước kia, khi có người qua đời, tang chủ phải lo mọi công việc, từ các việc phụ trợ như cử người đi báo tang, mời phường kèn, dựng rạp tang, lập ban thờ vong, phân công nhân lực chuẩn bị thực phẩm để làm cỗ mời khách cho đến những việc chính như thực hiện các nghi lễ đối với người qua đời. Ngày nay, với sự trợ giúp của ban tang lễ, việc báo tang được thông báo trên đài phát thanh của thôn, trong khi bên dịch vụ tang lễ sẽ đảm nhận các công việc dựng rạp tang, lập ban thờ vong, cử phường kèn... Do đó, tang chủ có thời gian để tập trung vào các nghi lễ chính đối với người đã khuất.

Để hạn chế tình trạng ăn uống linh đình, trong quy ước xây dựng làng văn hóa của các địa phương, quy ước của làng Kim nêu rõ “chỉ tổ chức ăn uống trong gia đình, dòng họ, hạn chế mời khách...”. Những năm đầu thực hiện, vẫn có nhiều quan điểm e ngại về vấn đề “trả nợ miệng”. Với sự đi đầu của các đảng viên và gia đình, người thân, người dân dần nhận thấy lợi ích của việc không ăn uống linh đình trong đám tang. Các cuộc phỏng vấn tại địa phương cho thấy, nếu như hỏa táng còn khiến người dân phải đắn đo thì hạn chế ăn uống lại được đa số người dân hưởng ứng. Việc ăn uống chỉ hạn chế đối với khách đến viếng, còn anh em, họ hàng và những người hàng xóm láng giềng thì việc này vẫn tiếp diễn nhằm duy trì sợi dây tình cảm.

Việc tang ngày nay ở làng Kim, về cơ bản, được chính người dân địa phương đánh giá là đơn giản, gọn nhẹ hơn trước đây rất nhiều. Không chỉ về thời gian tổ chức được rút ngắn, việc ăn uống cũng giảm đi nhiều mà các nghi thức trong quá trình đưa đám cũng được lược bỏ như chèo đò trên đường đưa tang, lăn đường. Có những nghi thức trong và sau đám tang, dù được vận động, khuyến khích nên bỏ hoặc giản lược đi như đội mũ rơm, chống gậy, hát chèo đò đưa linh, tổ chức ăn uống và mời khách trong các dịp cúng tuần,... nhưng trong quan niệm của người dân thì những gì không ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe thì không phải là hủ tục, lạc hậu. Chính vì thế, có những phong tục tiếp tục được duy trì như đội mũ rơm, chống gậy, khóc mướn hay chèo đò đưa linh vào đêm trước khi an táng, thậm chí có nghi lễ có xu hướng gia tăng về quy mô như cúng tuần, cúng 49 ngày hay có những phong tục được cải biên so với trước kia như thay vì rắc vàng mã dọc đường thì người dân rắc cánh hoa cúc với tâm niệm người chết sớm được về miền cực lạc.

- Thích ứng với hình thức mai táng mới

Hình thức mai táng phổ biến ở làng Kim cũng như các địa phương khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ cho đến những năm gần đây vẫn là địa táng, tức là chôn cất người quá cố trong lòng đất và theo phong tục địa phương, sau 3 năm, tang chủ sẽ tiến hành cải táng, đưa di hài người thân sang một ngôi mộ mới. Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, địa táng lại là hình thức mai táng gây nên nhiều nỗi lo ngại cho cả người dân và chính quyền địa phương như sự hữu hạn của đất đai, ô nhiễm môi trường... Trên các diễn đàn thảo luận về phát triển nông thôn, đây là một trong những vấn đề thường xuyên được đề cập đến như một tập quán “lạc hậu”, “mất vệ sinh”. Trong suốt nhiều năm liền, trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền thanh thôn, xã, đài phát thanh của huyện Đông Anh, những tiểu mục về thực hiện việc tang văn minh thường xuyên được đăng tải, nhấn mạnh đến những hạn chế của tập tục mai táng này.

Tuy nhiên, thay đổi tập quán mai táng của người dân là vấn đề quan trọng bởi nó liên quan đến niềm tin tôn giáo. Do quan niệm rằng con người có phần xác và phần hồn, nếu phần thể xác bị thiêu đốt thì linh hồn cũng sẽ “bị nóng”, nên nhiều người dân có tâm lí e ngại khi thực hiện hỏa táng cho người thân. Vì thế, trong những năm đầu thực hiện việc tang văn minh, hình thức mai táng này chưa được đông đảo người dân hưởng ứng. Từ năm 2010, để vận động người dân thực hiện hỏa táng, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quy định về chính sách hỗ trợ, khuyến khích hỏa táng trên địa bàn thành phố thông qua Quyết định số 28/2010/QĐ-UBND. Theo đó, mỗi trường hợp thực hiện hỏa táng sẽ được hỗ trợ 3 triệu đồng và chi phí vận chuyển là 1 triệu đồng đối với khu vực ngoại thành. Cùng với sự hỗ trợ của thành phố thì Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh cũng hỗ trợ 2 triệu đồng cho mỗi trường hợp. Với sự hỗ trợ của các cấp chính quyền như trên, người dân giải quyết được khoảng 40-50% kinh phí an táng. Sự hỗ trợ này cùng với “công tác tư tưởng” giúp cho các tang chủ an tâm thực hiện hỏa táng cho người thân, mặc dù việc thực hiện tang văn minh có lẽ chưa hoàn toàn tự nguyện ở một bộ phận người dân.

Việc chuyển đổi hình thức mai táng còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ việc quy hoạch nghĩa trang nói riêng và quy hoạch hiện trạng đất dành cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn nói chung. Ngay từ khi xây dựng đề án thực hiện việc tang văn minh tiến bộ năm 2008, Ủy ban Nhân dân huyện Đông Anh đã yêu cầu các địa phương phải tiến hành quy hoạch nghĩa trang trên cơ sở dân số và đất tự nhiên hiện có. Đến năm 2010-2011, khi đề án xây dựng nông thôn mới được xây dựng và bắt đầu triển khai thì việc quy hoạch này càng trở nên cấp thiết. Đất dành cho trường học mới, khu dân cư mới, khu trung tâm thương mại, điểm sinh hoạt cộng đồng... hay đất dành cho sản xuất nông nghiệp đều được cụ thể hóa trên các đồ án. Năm 2011-2012, theo quy hoạch của đề án xây dựng nông thôn mới thì đất dành cho nghĩa trang của làng là 3ha, trong đó, 2 ha là đất dự trù dành cho nghĩa trang, hiện tại vẫn dùng để sản xuất nông nghiệp và 1 ha đã được chia cho các dòng họ để làm nơi an táng. Từ số diện tích được giao, các dòng họ lại chia cho các chi, ngành dựa trên mức độ “lớn” - “nhỏ” của chi, ngành đó sao cho mỗi thành viên được một suất bằng nhau. Như vậy, nếu như xưa kia, tang chủ có thể tự do chọn cho người thân mình một vị trí an nghỉ trên thửa ruộng đang canh tác của gia đình, hoặc bất kì vị trí nào trong khu nghĩa địa của làng với quy mô tùy ý thì ngày nay, điều này dường như là không thể bởi nếu vi phạm, tang chủ sẽ phải chịu các chế tài xử phạt của làng, của xã. Mặc dù vậy, trong khu nghĩa trang đã được chia cho gia đình thì họ có thể tùy ý đặt ngôi mộ theo hướng đã chọn với niềm tin rằng hướng mộ sẽ mang lại bình an, phúc lộc và thịnh vượng cho con cháu.

Theo Cohen, trong các hình thức của thích ứng thì “phổ biến nhất là sự thích ứng với tư cách là sự phù hợp - sự tuân thủ, sự đồng ý, tuân thủ hoặc nhượng bộ trước môi trường hoặc tình huống [...]. Theo quan điểm thích ứng này, những cá nhân không tuân theo các giá trị, phong tục và tập quán hiện hành của một nền văn hóa hoặc bối cảnh nhất định thường bị coi là những người ngoài cuộc không thích nghi” (Cohen, 2012: 6). Với quy hoạch nông thôn mới, việc vạch rõ ranh giới khu đất dành cho nghĩa trang đã tác động trực tiếp đến hình thức mai táng của người dân. Mặc dù nghĩa trang có phân chia khu vực hung táng và cát táng nhưng an táng theo hình thức truyền thống ngày càng trở nên khó khăn hơn khi họ không chọn được một ô đất “sạch sẽ” dành cho người thân của mình. Không những thế, nhiều trường hợp đã được chôn cất nhiều năm nhưng chưa phân hủy hoàn toàn đã gây nên những lo ngại khi cải táng, đặc biệt khi người dân tin rằng những vấn đề về mồ mả sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và công việc của gia đình, dòng họ. Bối cảnh trên đã khiến cho hỏa táng được xem là hình thức an táng phù hợp và an toàn cho sức khỏe của các thành viên trong gia đình.

Sự chuyển đổi từ địa táng sang hỏa táng không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về hình thức mai táng mà còn phản ánh sự thích ứng linh hoạt của người dân trước những thay đổi của xã hội, của môi trường sống. Điều này gợi nhắc đến khái niệm văn hóa như một công cụ đa năng “vừa là chiến lược thích ứng được sử dụng bởi những người sống trong những điều kiện cụ thể, vừa là hệ thống ý nghĩa mà con người cũng phải thích ứng” (Keyes, 1977: 9). Những tiêu chí về quy hoạch, về nếp sống văn minh của nông thôn mới là nhân tố khách quan nhưng những lo ngại về môi trường, về sức khỏe cũng là tác nhân đáng kể đưa đến sự thay đổi này. Điều đó cũng cho thấy sự thay đổi trong tư duy và tập quán của người dân. Hỏa táng, từ chỗ bị xem là xa lạ, đã được chấp nhận và thực hành ngày càng phổ biến, trở thành một tập quán trong thực hành tang ma nói riêng, đời sống văn hóa của người Việt nói chung.

*

*     *

Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, với những tiêu chí bao quát mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, có thể xem là một trong những nỗ lực của quá trình xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Nông thôn mới, không chỉ mới, đẹp ở cơ sở hạ tầng mà còn góp phần định hình các thực hành văn hóa theo hướng văn minh, hiện đại nhằm thanh lọc những yếu tố không còn phù hợp với xã hội mới. Trong đó, phong tục tang ma được điều chỉnh và kết tập vào các quy ước xây dựng nông thôn mới, được người dân dần dần thích ứng. 

Trong quá trình thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, đặc biệt là các tiêu chí liên quan đến tang ma, sự thích ứng của người dân được biểu hiện qua việc họ điều chỉnh các thực hành truyền thống để phù hợp với các yêu cầu mới. Những thay đổi trong cách tổ chức tang lễ, từ việc rút ngắn thời gian, giảm bớt các nghi thức ăn uống linh đình, đến sự tham gia của các tổ chức và dịch vụ tang lễ chuyên nghiệp..., cho thấy một quá trình thích ứng về cả hình thức cùng ý nghĩa. Người dân không chỉ đơn thuần tuân thủ các quy định của chính quyền, mà còn dần nhận thức được ý nghĩa của những thay đổi này đối với việc bảo vệ môi trường, giảm thiểu chi phí trong khi vẫn duy trì được sự trang trọng của các nghi thức. Cũng qua quá trình xây dựng nông thôn mới, người dân ở ngoại thành Hà Nội đã cho thấy khả năng thích ứng linh hoạt và sáng tạo của mình. Họ vừa cố gắng níu giữ các nghi thức truyền thống của thực hành tang ma, vừa điều chỉnh chúng theo yêu cầu của nhà nước để phục vụ mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Như vậy, sự thích ứng của người dân đối với các tiêu chí của nông thôn mới, nhìn từ thực hành tang ma, không chỉ là sự tuân thủ theo những yêu cầu mới mà còn là sự tích hợp sáng tạo giữa truyền thống và hiện đại. Điều này phần nào minh chứng cho sự năng động và linh hoạt của văn hóa Việt Nam trong bối cảnh xã hội chuyển đổi./.

Bài viết đầy đủ có tại: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, Số 4 (214).

 

CHÚ THÍCH

(i) Theo Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội năm 2012, phương hướng nhiệm vụ năm 2013 và Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội năm 2023, phương hướng nhiệm vụ năm 2024 của Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh.

(ii) Hải Yến (2023), “Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư, cánh tay nối dài của Đảng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”, https://mttqhanoi.org.vn/ban-cong-tac-mat-tran-o-khu-dan-cu-canh-tay-noi-dai-cua-dang-trong-xay-dung-khoi-dai-doan-ket-toan-dan-toc.htm, truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2024.

(iii) Để đảm bảo tính khách quan và trung lập trong phân tích, bài viết xin phép được ẩn danh địa bàn nghiên cứu.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị 27-CT/TW về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, ngày 12 tháng 01 năm 1998.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2011), Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, ngày 21 tháng 01 năm 2011.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2011), Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương, ngày 10 tháng 10 năm 2011.

Bộ Văn hóa - Thông tin (1998), Thông tư của Bộ Văn hoá - Thông tin số 04/1998/TT-BVHTT hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, ngày 11 tháng 7 năm 1998.

Cohen, L.M. (2012), “Adaptation and creativity in cultural context” (Sự thích nghi và sáng tạo trong bối cảnh văn hóa), Revista de Psicología, Vol. 30 (1), pp. 3-18.

Nguyễn Thị Lệ Hà (2017), “Sự thay đổi về phong tục tập quán ở làng xã Bắc Kì thời Pháp thuộc”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (115), tr. 53-61.

Hội đồng Nhân dân huyện Đông Anh (2008), Nghị quyết số 30/NQ-HĐND về thực hiện việc tang văn minh, tiến bộ, ngày 15 tháng 7 năm 2008.

Kleinen, J. (2013), Làng Việt đối diện tương lai, hồi sinh quá khứ, Nxb. Lao động, Hà Nội.

Keyes, C.F. (1977), “The Golden Peninsula: Culture and Adaptation in Mainland Southeast Asia” (Bán đảo vàng: văn hóa và sự thích ứng ở lục địa Đông Nam Á), Macmillan Publishing, New York.

Leach, E.R. (1970), “Political Systems of Highland Burma. A Study of Kachin Social Structure” (Hệ thống chính trị của Tây Nguyên Miến Điện: Nghiên cứu về cấu trúc xã hội Kachin), The Athlone Press, University of London.

Hy V. Luong (2010), Tradition, Revolution, and Market Economy in a North Vietnamese Village, 1925–2006 (Truyền thống, Cách mạng và Kinh tế thị trường ở một làng quê miền Bắc Việt Nam, 1925-2006), University of Hawaii Press, Honolulu.

Malarney, S.K. (1996), “The limits of ‘state functionalism’ and the reconstruction of funerary ritual in contemporary northern Vietnam” (Giới hạn của ‘chủ nghĩa chức năng nhà nước’ và việc tái thiết nghi lễ tang lễ ở miền Bắc Việt Nam đương đại), American Ethnologist 23(3), pp. 540-560.

Malarney, S.K. (2002), Culture, ritual and revolution in Vietnam (Văn hóa, lễ nghi và cách mạng ở Việt Nam), University of Hawaii Press, Honolulu.

Lê Mạnh Năm (2003), “Phong trào khôi phục tập quán - tín ngưỡng cổ truyền ở một số làng xã vùng châu thổ sông Hồng”, Tạp chí Xã hội học, số 3, tr. 60-66.

Runco, M.A. (1999), “Tension, Adaptability and Creativity” (Sự căng thẳng, khả năng thích nghi và sáng tạo), in S. W. Russ (Ed.), Affect, Creative Experience, and Psychological Adjustment (Ảnh hưởng, Trải nghiệm sáng tạo và Điều chỉnh tâm lí), Philadelphia, PA: Taylor & Francis.

Ngô Tất Tố (1957), Việc làng: phóng sự, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội. 

Nguyễn Công Thảo (2020), Tìm phố trong làng: những chiều tâm tư của người cao tuổi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Thủ tướng Chính phủ (1998), Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, ngày 28 tháng 3 năm 1998.

Thủ tướng chính phủ (2009), Quyết định số 491/QĐ-TTG về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, ngày 16 tháng 4 năm 2009, Cổng thông tin điện tử Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 (http://nongthonmoi.gov.vn/vn/htvb/vbpq/Lists/La wDocument/View_Detail.aspx?ItemID=1222&Pa ge=1), truy cập tháng 4 năm 2024.

Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 800/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, ngày 04 tháng 6 năm 2010, Cổng thông tin điện tử Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=2&m ode=detail&document_id=95073), truy cập tháng 4 năm 2024.

Ty Văn hóa Hà Tây (1968), Xây dựng nếp sống văn hóa mới phục vụ sự nghiệp chống Mỹ cứu nước ở nông thôn.

Ủy ban Nhân dân huyện Đông Anh (2008), Kế hoạch số 59/KH-UBND về thực hiện việc tang văn minh, tiến bộ, ngày 30 tháng 7 năm 2008.

Nguồn bài viết: ThS. Lê Thị Phượng
Viện Hàn Lâm Khoa Học Việt Nam
Thư viện ảnh
image advertisement