image banner
VI | EN
Thực trạng diễn xướng hầu đồng ở Hà Nội
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Diễn xướng hầu đồng ở Hà Nội - thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy” của TS. Lê Cẩm Ly (Viện Nghiên cứu Văn hóa).

Anh-tin-bai

Mấy thập kỷ gần đây, với chính sách đổi mới của Nhà nước cũng như với sự tác động của kinh tế - xã hội, nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta được hồi sinh. Bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo theo đó cũng trở nên đa dạng với nhiều sắc thái khác nhau, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Đây là một hiện tượng văn hóa tín ngưỡng tâm linh độc đáo trong hệ thống tín ngưỡng dân gian của Việt Nam.

Theo các nhà nghiên cứu đi trước, diễn xướng hầu đồng (DXHĐ) là một nghi lễ quan trọng của nghi lễ thờ Mẫu Tam phủ. Đó là nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị thánh Tứ phủ vào thân xác các thanh đồng, là sự tái hiện lại hình ảnh của các vị thánh thông qua nghệ thuật diễn xướng tâm linh nhằm phán truyền, ban tài lộc, đáp ứng nhu cầu của tín đồ đạo Mẫu theo một quy tắc, trật tự nhất định.

Có lẽ hiếm thấy một hình thức tôn giáo tín ngưỡng dân gian nào mà ở đó tích hợp nhiều hiện tượng, giá trị văn hóa mang sắc thái dân tộc độc đáo như nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật diễn xướng, các hình thức sinh hoạt cộng đồng gắn liền với yếu tố “thiêng” trong một không gian “thiêng” như DXHĐ. Với hình thức phong phú, đa dạng, DXHĐ không chỉ dừng lại ở nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng mà còn có tính cộng đồng cao kết hợp hài hòa giữa cung văn, thanh đồng, hầu dâng và bản hội, kết hợp giữa đàn, hát, múa, trang phục, đạo cụ và sự phấn kích của thanh đồng cùng sự hào hứng tung hô của bản hội và các khách tham dự. Ngày 1 tháng 12 năm 2016, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được Unesco ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là niềm tự hào lớn lao của mỗi người dân Việt Nam, trong đó có người dân Hà Nội bởi tín ngưỡng dân gian này đã có hàng trăm năm nay, như một “bảo tàng sống” lữu giữ lịch sử, di sản và bản sắc văn hóa của dân tộc.

Thực trạng diễn xướng hầu đồng tại các đền, phủ, điện thờ ở Hà Nội

Về không gian

Theo GS. TS Ngô Đức Thịnh (2007), trước đây hầu hết các cuộc DXHĐ được “diễn ra chủ yếu ở các đền, phủ, miếu trước bệ thờ vong Thánh” (tr. 36) vào các dịp lễ hội chính trong năm. Ở Hà Nội, có thể kể tới hàng loạt các lễ hội tiêu biểu trong đó có sự hiện diện của DXHĐ như: lễ hội phủ Tây Hồ, lễ hội đền Mẫu Thoải, lễ hội đền Dầm, lễ hội đền Sòng, lễ hội đền Rừng, lễ hội đền Kim Giang, lễ hội đền Lâm Du, lễ hội đền Lưu Phái… Những năm gần đây DXHĐ đã diễn ra khá sôi nổi ở hầu hết các di tích có thờ Đức Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần. Mặt khác, các canh hầu không chỉ tổ chức ở những đền thờ Thánh mà mở rộng ở các đình, chùa. Chính sự phát triển mạnh mẽ của DXHĐ với mật độ gia tăng cả về số lượng và người hành nghề “đồng bóng” đã kéo theo tình trạng các chùa đua nhau xây thêm điện Mẫu. Thật vậy, nếu như trước kia ít chùa có điện Mẫu thì hiện nay nhiều chùa đều có điện để thờ Mẫu theo cấu trúc “Tiền Phật - hậu Mẫu”.  Đó là chưa kể sự xuất hiện của điện Mẫu do tư nhân lập nên hay còn gọi là điện tư nhân. Các nhà nghiên cứu cho rằng mặc dù tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được phân bố ở nhiều tỉnh thành trên khắp cả nước nhưng Hà Nội là một trong những nơi có nhiều nhất các di tích, cơ sở thờ tự liên quan tới tín ngưỡng này. Thống kê của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cho biết, toàn thành phố có hơn 2.000 địa điểm, di tích thờ Mẫu, trong đó có 4 phủ, 210 đền, 892 điện, 33 miếu và số còn lại là điện tư nhân (Ngô Hồng Hà, 2002).

Về đối tượng

Đối tượng thực hành DXHĐ trước đây là những người có căn cơ thật sự, họ bắt buộc phải “cắt tóc ăn mày lộc Thánh” để được giải thoát khỏi bệnh tật, điên loạn và sự mất ổn định trong cuộc sống. Tuy nhiên, ngày nay khi xã hội đã chuyển mình bước vào nền kinh tế thị trường thì chủ thể thực hành DXHĐ cũng như đội ngũ con nhang đệ tử cũng có nhiều biến động theo xu hướng tăng dần về số lượng, trẻ hóa theo lứa tuổi và phong phú về nghề nghiệp. Đối tượng thực hành DXHĐ trở nên đa dạng hơn khi có sự tham gia của một bộ phận không nhỏ là những người kinh doanh, buôn bán. Họ là những người hoàn toàn bình thường, nhưng do đặc thù công việc, luôn phải đối mặt với những thành công, thất bại và cả những cạnh tranh, chèn ép trên thương trường…điều này đôi khi cũng khiến họ cảm thấy mệt mỏi. Đấy là chưa kể đến những tầng lớp buôn bán, kinh doanh lớn nhỏ hiện nay họ còn phải chịu quá nhiều rủi ro trên một nền kinh tế đầy biến động. Thực trạng này đã nảy sinh nhu cầu cần được giải phóng, cần được đứng trên quyền lực cũng là nhu cầu rất bình thường. Tín ngưỡng thờ Mẫu, với tư tưởng hướng con người đến cuộc sống thực tại của mình đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đó.

Về trang phục, đồ lễ

Thời kỳ đổi mới, kinh tế đất nước vận hành theo nền kinh tế thị trường và dần phát huy hiệu quả, cuộc sống của người dân không ngừng được cải thiện. Dưới tác động đó, cùng với thị hiếu thẩm mỹ, nhu cầu của mỗi thanh đồng mà trang phục trong DXHĐ không còn đơn giản như xưa nữa. Cùng với sự hiện diện ngày càng đa dạng các thần linh trong điện thờ Tứ phủ, các trang phục dành cho DXHĐ cũng phân hóa thành nhiều chủng loại, cấp độ. Người ta gọi trang phục trong diễn xướng hầu đồng là khăn chầu áo ngự, là các y phục của chư thánh giá ngự. Một bộ trang phục cho thanh đồng có giá từ 1 đến 5 triệu đồng. Thông thường họ đặt ít nhất 5 loại trang phục hầu đồng. Mỗi giá đồng đều có trang phục riêng để biết đó là giá đồng nào. Ở Hà Nội có thể tìm mua loại trang phục này ở phố Hàng Quạt. Xa hơn có thể tìm mua hoặc đặt may ở chợ Vồi, Thường Tín. Ngoài ra còn có cả một làng chuyên sản xuất trang phục phục vụ DXHĐ với số lượng lớn là làng Đông Cứu, xã Dũng Tiến (Thường Tín, Hà Nội).

Đồ lễ giữ một vị trí quan trọng trong DXHĐ. Tùy vào tính chất của từng lễ thức: hầu trình Đồng mở phủ, hầu vui, hầu tạ, hầu xin lộc… sẽ có đồ lễ tương ứng. Sau khi dâng lên, được Phật, Thánh về chứng thì đồ lễ đó được dùng để tán lộc cho những người tham dự. Nếu như trước đây, người ta tùy tâm biện lễ thì ngày nay những người thực hành DXHĐ lại quan niệm tốt lễ, dễ kêu. Đồ lễ trong các buổi DXHĐ hiện nay rất đa dạng. Từ các loại hoa quả đủ chủng loại xuất xứ từ khắp mọi miền đất nước hay thậm chí nhập khẩu từ nước ngoài đến các loại bánh kẹo, thậm chí cả bia rượu, nước khoáng, nước ngọt.... Với các thanh đồng giàu có ở các thành phố lớn như Hà Nội thì chỉ cần nhìn qua đồ lễ người ta cũng có thể đánh giá được mức độ sang của thanh đồng. Nhóm này thường chú ý tới chất lượng, mẫu mã sản phẩm mà theo họ phải sang, đẹp. Đây cũng là bộ mặt của họ trước những vị khách được mời đến tham dự vấn hầu nên đồ lễ phải sang trọng, lịch sự, cách bài trí đồ lễ cũng phải đạt được tính thẩm mỹ, nghệ thuật. Các thanh đồng ở những vùng quê tuy không có nhiều điều kiện để biện lễ cao sang nhưng đồ lễ trên ban thờ Thánh của họ cũng xuất hiện các sản phẩm của nền kinh tế thị trường như bia, nước ngọt, mì chính, dầu ăn... nhưng số lượng ít.

Về cung văn, âm nhạc và lời hát văn

Sự tồn tại của ban cung văn không chuyên với những nhạc cụ chỉ gồm cây đàn Nguyệt và phách trước kia đã dần trở nên hiếm hoi trong các canh hầu hiện nay ở các thành phố lớn trong đó có Hà Nội. Thay vào đó là sự xuất hiện ngày càng phổ biến các canh hầu với những ban cung văn chuyên nghiệp. Họ sử dụng rất nhiều nhạc cụ thuộc các bộ khác nhau như trống, phách (bộ gõ), đàn Nguyệt, đàn Tỳ Bà, đàn Nhị (bộ dây) và thậm chí cả sáo, tiêu (bộ hơi).

Theo các nhà nghiên cứu đi trước, bên cạnh những nghệ nhân truyền thống, đội ngũ những người hát chầu văn hiện nay khá phức tạp. Nhiều nghệ sỹ chèo, cải lương vì kế sinh nhai đã chuyển sang hát văn, những người mới học nghề vài ba tháng cũng gia nhập đội ngũ này, dẫn đến tình trạng biến dạng nhiều lời hát, vần điệu, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng các buổi DXHĐ. Có thể nói, hiện nay nghệ thuật hát văn truyền thống đang được bảo lưu, thực hành và phát triển trong môi trường xã hội gắn với nền kinh tế thị trường đầy sôi động. Đây là một dấu hiệu đáng mừng cho một loại hình di sản văn hóa của người Việt nhưng bên cạnh đó, đã và đang có một số vấn đề nảy sinh từ sự phát triển quá mạnh mẽ, tràn lan của nghề hát văn hầu đồng. Nhiều cung văn trẻ, tay nghề còn non kém cũng tham gia phục vụ DXHĐ. Ngược lại, một số cung văn giỏi nhưng vì mục đích kiếm tiền, đã phải chiều theo ý các ông, bà đồng, con nhang đệ tử làm méo mó cả bài hát văn, thêm thắt lời văn tùy tiện, nếu được thưởng nhiều tiền thì hăng hái ca hát, khi được ít “lộc” thì chỉ hát cho xong nhiệm vụ. Có thể thấy về phía các cung văn - chủ thể thực hành hát văn cần ý thức vai trò của mình trong việc bảo tồn, phát triển nghệ thuật hát văn truyền thống, tránh việc quá sa đà vào mục đích thương mại.

*

*     *

Tồn tại với tư cách là một nghi lễ đặc trưng của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, DXHĐ đã và đang góp phần vào việc tô điểm thêm những nét đẹp tâm linh cho tín ngưỡng này. Ngoài những giá trị tự thân do nghi lễ đem lại thì DXHĐ thời nay vẫn là một phương thức hữu hiệu trong việc tái hiện lịch sử văn hóa Việt Nam. Sự tồn tại bền bỉ với thời gian qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử, văn hóa, xã hội đã chứng tỏ những giá trị nhất định của hiện tượng văn hóa độc đáo này trong kho tàng văn hóa của người Việt.

Trong quá trình hình thành, phát triển, DXHĐ không ngừng biến đổi dưới tác động của các điều kiện kinh tế và xã hội. Các xu hướng biến đổi của DXHĐ phần lớn đều mang một khát vọng vượt qua những hạn chế, những ràng buộc đã tỏ ra quá lạc hậu và lỗi thời trong xã hội để vươn lên những giá trị cao đẹp hơn, chân, thiện, mỹ hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng không tránh khỏi những biến đổi mang tính tiêu cực như lợi dụng nghi lễ lên đồng thành “dịch vụ tâm linh” và trở thành hiện tượng mê tín dị đoan.

Đứng trước những biến đổi theo nhiều chiều hướng của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ nói chung và DXHĐ nói riêng, chúng ta phải có những giải pháp đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội; tăng cường công tác quản lý Nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học chuyên sâu về DXHĐ để có thể làm sáng tỏ thêm những giá trị tiềm ẩn của nghi lễ, đồng thời nâng cao trình độ nhận thức cho nhân dân và cán bộ làm công tác quản lý tôn giáo, tín ngưỡng ở các cấp, các ngành để họ có thể nhận diện được những giá trị đích thực của loại hình tín ngưỡng này./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phan Danh Hùng Anh (2014), Biến đổi của nghi lễ hầu đồng hiện nay dưới tác động của nền kinh tế thị trường (Qua khảo sát trên địa bàn Hà Nội), Khóa luận tốt nghiệp khoa Văn hóa học,  Đại học Văn hóa Hà Nội.

Lê Thị Chiêng, Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo nhìn từ một số điện thờ tư gia Hà Nội, Nghiên cứu Tôn giáo, số 5, 2004, tr. 61- 64.

Lê Thị Chiêng, Điện thờ tư gia một hình thức tín ngưỡng dân gian trong xã hội hiện đại (qua khảo sát tại Hà Nội), Nghiên cứu Tôn giáo, số 11, 2008, tr. 59- 64.

Lê Thị Chiêng  (2010), Tìm hiểu các điện thờ tư gia ở Hà Nội, Luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Tôn giáo tín ngưỡng, Viện Nghiên cứu Tôn giáo.

Nguyễn Ngọc Mai, Nguyễn Bình, (2014), Sự biến đổi của tín ngưỡng truyền thống dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Tôn giáo.

Ngô Đức Thịnh (2007), Đạo Mẫu,  tập 1,2, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

Ngô Đức Thịnh (2010), Đạo Mẫu Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội.

Ngô Hồng Hà (2022), Bảo tồn nét đẹp văn hóa Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, https://bvhttdl.gov.vn/bao-ton-net-dep-van-hoa-thuc-hanh-tin-nguong-tho-mau-20220221143611755.htm, truy cập ngày 21 tháng 2.

Vũ Hồng Vân, Phạm Duy (2018), Tín ngưỡng thờ Mẫu trong sinh hoạt tinh thần của người Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội.

Nguyễn Thị Yên chủ biên (2020), Thực hành tín ngưỡng Tứ phủ của người Việt từ sau vinh danh, Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Văn hóa.

Phùng Vương Khánh Yến (2014), Đồ lễ trong nghi lễ hầu đồng (Qua khảo sát một số đền, phủ thờ Mẫu ở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Đại học Văn hóa Hà Nội.

Nguồn bài viết: Hội thảo “Giáo dục Hà Nội học qua tiểu vùng văn hóa Thăng Long-Hà Nội” ngày 21/10/2025

Nguồn bài viết: TS. Lê Cẩm Ly
Viện Hàn Lâm Khoa Học Việt Nam
Thư viện ảnh
image advertisement