Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Nghệ thuật công cộng kết nối di sản và kinh tế trải nghiệm” của TS. Vũ Tú Quỳnh (Viện Nghiên cứu Văn hóa).

Ở Việt Nam, nghệ thuật
công cộng đã xuất hiện từ những thập niên cuối thế kỷ XX dưới dạng tượng đài, công
trình điêu khắc, vườn tượng hay tranh tường, song hiệu ứng mờ nhạt trong đời sống
đô thị. Nguyên nhân một phần đến từ việc các tác phẩm thiếu gắn kết với địa điểm
cụ thể cũng như thiếu sự tương tác, đối thoại với cộng đồng, những yếu tố then
chốt để nghệ thuật công cộng thực sự trở thành một phần sống động trong nhịp sống
đô thị. Khái niệm nghệ thuật công cộng giờ đây không đơn giản chỉ là việc mang
tác phẩm trưng bày ở nơi công cộng để công chúng thưởng thức. Nghệ thuật công cộng
phải là những sáng tạo mang tính kết nối đa chiều.
Quan sát và nghiên cứu
xu thế sáng tạo nghệ thuật những thập niên đầu thế kỷ XXI, có thể nhận thấy
khái niệm nghệ thuật công cộng đã vượt ra khỏi cách hiểu truyền thống, vốn chỉ
gắn với những tác phẩm mỹ thuật đặt ở không gian ngoài trời nhằm mục đích trang
trí đô thị hay làm đẹp cảnh quan. Cùng với sự mở rộng không gian sáng tạo và
nhu cầu tham gia văn hoá của công chúng, nghệ thuật công cộng ở Việt Nam bắt đầu
dịch chuyển theo hướng năng động và đa dạng. Các nghệ sĩ đã sử dụng nghệ thuật
công cộng như một thực hành tạo sự kết nối đa chiều, vừa là phương tiện thẩm mỹ,
vừa là công cụ xã hội, là diễn đàn cho sự đối thoại giữa nghệ sĩ, cộng đồng và
không gian sống. Sự thay đổi này phản ánh bước chuyển từ quan niệm đến thực
hành, theo đó, giá trị của sáng tạo mỹ thuật không chỉ nằm ở hình thức tác phẩm
mà còn ở quá trình tương tác, gợi mở ký ức và tạo ra trải nghiệm. Thay vì những
tác phẩm tĩnh tại để khán giả thưởng thức, nhìn ngắm một chiều, các dự án nghệ
thuật công cộng đã chú trọng đến tính tương tác, đến sự tham gia của cộng đồng
và khả năng diễn giải di sản trong bối cảnh đô thị đương đại. Điều đó tạo nên
những hiệu ứng xã hội, thể hiện qua việc người dân được trực tiếp sống trong một
không gian di sản, sống trong giá trị quá khứ được tái hiện trong đời sống hiện
đại. Sự gắn kết này là “dung môi” biến nghệ thuật công cộng từ không gian thẩm
mỹ thành không gian trải nghiệm với sự kết nối ký ức, di sản và đời sống đương
đại.
Bài viết này lựa chọn dự án nghệ thuật công cộng ở phố
Phùng Hưng và nghệ thuật công cộng ở Phúc Tân, cùng thuộc phường Hoàn Kiếm, Hà
Nội như là những dẫn dụ tiêu biểu, cho thấy thông điệp về di sản văn hóa được
thể hiện nổi bật thông qua các hình thức sáng tạo có sự gắn kết với không gian
lịch sử, văn hóa địa phương. Những dự án này không chỉ góp phần làm sống động
ký ức cộng đồng mà còn mở ra các hình thức trải nghiệm văn hóa, tạo sự kết nối
giữa nghệ thuật, di sản và phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế trải nghiệm.
Nghệ thuật
công cộng diễn giải và làm mới di sản
Cuối năm 2017,
đầu năm 2018, dự án nghệ thuật công cộng ở phố Phùng Hưng được thực hiện tại
khu vực đường dẫn lên cầu Long Biên đoạn phố Phùng Hưng, với mục đích tạo dựng
không gian nghệ thuật ở khu vực phố cổ, kết nối và mở rộng không gian phố đi bộ
Hồ Hoàn Kiếm nhằm mục tiêu kép, vừa phát triển quy hoạch không gian đô thị, cải
tạo cảnh quan vừa phát triển kinh tế.
Tiếp sau đó, cuối năm
2019, đầu năm 2020, nằm trong kế hoạch cải tạo bờ ven sông Hồng của chính quyền phường Hoàn Kiếm, một đoạn bờ ven sông thuộc khu vực bãi Phúc
Tân trở thành không gian sáng tạo và trưng bày
các tác phẩm nghệ thuật tạo hình của 16 nghệ sĩ đương đại, bao gồm cả nghệ
sĩ trong nước và nước ngoài. Đặc điểm chung của các
dự án nghệ thuật công cộng này là đều làm nổi bật giá trị di sản bằng cách tái
hiện, diễn giải và làm mới không gian văn hóa, giúp người dân và du khách kết nối
với lịch sử và bản sắc văn hoá địa phương.
Trước khi trở thành
không gian nghệ thuật thu hút hàng ngàn du khách đến thưởng lãm, khu vực chân cầu
Long Biên ở phố Phùng Hưng là nơi vắng vẻ, ít người qua lại bởi phố chỉ có một
dãy dân cư sinh sống, dãy còn lại là chân cầu của đường dẫn xe lửa lên cầu Long
Biên. Cho đến năm 2017, trước khi dự án nghệ thuật công cộng được triển khai,
khu vực chân cầu đã từng nhiều năm là nơi tập kết xe rác, nhếch nhác và mất vệ
sinh.
Cầu Long Biên được
xây dựng dưới thời Pháp thuộc, qua bao thăng trầm lịch sử đã vượt ra khỏi vai
trò của một công trình giao thông để trở thành di tích mang đậm dấu ấn thời
gian và là biểu tượng trong ký ức đô thị của Hà Nội. Sự xuất hiện của nghệ thuật
đã biến đoạn phố có
19 vòm cầu, vốn trước
kia mang màu đá xám lạnh lẽo, ẩm mốc rêu phủ, là nơi tập trung xe rác
ngổn ngang, nhếch nhác thành không gian nghệ thuật với các bích họa và nghệ thuật sắp đặt được nhiều
người ưa thích.
Dự án được xây dựng tại một di sản không chỉ là chứng tích lịch sử của Hà Nội mà
còn là biểu tượng gợi mở những lớp ký ức đô thị sâu lắng, tạo nên sự tiếp xúc, gặp gỡ giữa các yếu tố truyền thống
và hiện đại. Dấu ấn
của nghệ thuật công cộng ở phố Phùng Hưng chính là sự diễn giải về di sản thể
hiện qua cách nghệ sĩ xây dựng ý tưởng và thể hiện tác phẩm. Cây cầu Long Biên
và phố Phùng Hưng trở thành đối tượng nghiên cứu, khảo sát các lớp lang lịch sử và diễn biến xã hội nhằm nhận diện di sản trong sự biến đổi
của đời sống đô thị. Trên nền tảng đó, tác phẩm sắp đặt Máy nước thời gian
của tác giả Nguyễn Thế Sơn ra đời như một sự diễn giải về đời sống sinh hoạt của
người Hà Nội thời bao cấp, khi mỗi buổi chiều muộn, người
dân phố cổ kéo nhau mang thùng, xô ra máy nước công cộng xếp hàng lấy nước sinh
hoạt gánh/xách về nhà. Máy nước công cộng trở thành một phần ký ức của Hà Nội,
phản chiếu thời kỳ hệ thống nước sạch của Hà Nội không đủ cung cấp cho các ngôi
nhà ống chật hẹp có nhiều hộ dân cùng chung sống. Khi biết trên phố Phùng Hưng
từng có một máy nước công cộng, Nguyễn Thế Sơn đã chọn cách tái hiện nó để diễn
giải về sự biến chuyển của con phố, ở đó có những lát cắt thời gian đã lặng lẽ
trôi vào quá khứ.
Cùng ý tưởng đó, nghệ
sĩ Dương Mạnh Quyết nhìn phố Phùng Hưng như thân phận con người trong cuộc mưu
sinh của những năm tháng nghèo khó. Đã từng một thời, phố Phùng Hưng là một
trong những chợ buôn bán xe máy cũ khá tấp nập của Hà Nội, nơi người dân thường
tìm đến để thực hiện ước mơ sở hữu một chiếc xe gắn máy. Kim vàng giọt lệ là cách người dân gọi xe Honda Super Cup 81 của Nhật,
một thời là biểu tượng của cuộc sống giàu có và hiện đại. Hôm nay, huyền thoại
Super cup 81 vang bóng một thời được nghệ sĩ sơn màu nhũ vàng, dựng bên vỉa hè,
làm thành tác phẩm sắp đặt mang tên Kim
vàng giọt lệ. Bằng cách này, nghệ sĩ không chỉ diễn giải về phố Phùng Hưng
trong diễn biến thời cuộc mà còn diễn giải đầy cảm xúc về một biểu tượng thể hiện
khát khao vươn tới cuộc sống hiện đại của người dân Hà Nội những năm 70, 80 của
thế kỷ XX.
Tìm hiểu về Hà Nội và lịch sử phố Phùng Hưng qua các tài liệu ghi chép, nghệ
sĩ Trần Hậu Yên Thế đã lựa chọn tái hiện ngôi nhà số 63, chứng tích của thời kỳ
giao thoa văn hoá Đông Tây trên con phố này. Dù công trình vẫn còn hiện diện, họa
sĩ vẫn quyết định “vẽ lại” nó bằng nghệ thuật 3D trên tấm UCO như một cách
chiêm nghiệm của nghệ sĩ đương đại với quá khứ đang dần trở thành di sản. Tác
phẩm là điểm kết nối giữa ký ức và hiện thực, giữa cái cũ và cái mới, nơi lịch
sử được gợi nhắc không bằng cách phủ định, mà bằng sự đồng hành và cộng sinh
trong không gian nghệ thuật và trong mối quan tâm của thế hệ hôm nay.
Họa sĩ Cấn Văn Ân sử dụng kỹ thuật vẽ 3D để tái hiện một vòm cầu giả tưởng
như thể người xem có thể đi xuyên qua. Tác phẩm gợi nhắc đến kiến trúc nguyên bản
của các vòm chân cầu ở phố Phùng Hưng, thời điểm chưa bị bưng kín, người và xe
cộ có thể lưu thông. Ngày nay, chỉ còn hai vòm giữ được dáng vẻ ban đầu. Việc sử
dụng nghệ thuật vẽ 3D tạo hiệu ứng không gian ảo như thật, không chỉ là một xu
hướng mới của nghệ thuật thị giác hiện đại mà còn là là cách thức mới để diễn
giải di sản. Tác phẩm làm sống dậy ký ức về cấu trúc giao thông xưa và gợi mở
những khả năng trong tương lai khi thành phố Hà Nội có chủ trương đục thông các
vòm cầu để khai thác cho các hoạt động du lịch và văn hóa, phát triển đô thị
giàu bản sắc.
Ký ức là một yếu tố quan trọng của sự hình thành bản sắc (Smith 2006: 60). Với
ý tưởng coi ký ức là một dạng di sản sống động, có khả năng kết nối nghệ thuật
đương đại với địa điểm cầu Long Biên hay phố Phùng Hưng, các nghệ sĩ đã khai
thác dòng chảy ký ức để tiếp cận và diễn giải địa điểm, tạo ra cuộc đối thoại
giữa quá khứ và hiện tại. Những tác phẩm nghệ thuật công cộng ra đời với tinh
thần này không chỉ để hoài niệm mà còn biến di sản từ một thực thể tĩnh thành một
trải nghiệm sống động để kết nối con người hôm nay với quá khứ của nơi họ đang
sống. Điều đó tạo nên sức hút thôi thúc hàng ngàn người dân thuộc nhiều lứa tuổi
tìm đến với không gian nghệ thuật này để được trải nghiệm và tương tác.
Ngay sau nghệ thuật công cộng ở phố Phùng Hưng với những diễn giải đầy cảm
xúc về ký ức đô thị, nghệ thuật công cộng ở Phúc Tân tiếp nối hành trình sáng tạo
bằng cách làm mới di sản, biến không gian ven sông từng bị lãng quên trở thành
một dải nghệ thuật hàm chứa các giá trị lịch sử, văn hóa được “viết lại” theo
cách của những nghệ sĩ trẻ.
Phúc Tân, như nhiều dải đất khác ven bờ sông Hồng, là bãi rác tự phát chất
chứa ngổn ngang phế liệu xây dựng,
chai lọ, xỉ than, bàn ghế hỏng, cửa gỗ mục, chăn bông cũ, kính vỡ… Nơi
hiện diện các tác phẩm nghệ thuật là khu vực bức tường cũ được xây từ năm 1993,
chạy dọc bên bờ sông, phân lập khu dân cư với phần bãi bồi ven sông. Nét hấp dẫn
của nghệ thuật công cộng Phúc Tân chính là thông điệp về rác thải được các nghệ
sĩ truyền tải xuyên suốt từ ý tưởng cho đến hình thức thể hiện.
Các tác phẩm là kết quả của quá trình tương tác giữa con người với môi trường
rác thải với những đồ vật cũ hỏng bị vứt bỏ, được tái sinh trong một ngữ cảnh thẩm mỹ
hoàn toàn mới.
Sử dụng hàng nghìn chai nhựa, bình nhựa, những vật dụng dùng một lần, nghệ sĩ Vũ Xuân
Đông kết thành 4 chiếc thuyền buồm dập dìu trên sóng nước, gợi nhắc lại dấu ấn
lịch sử khẳng định Phúc Tân cách đây hơn 100 năm trước đã từng là cửa ngõ của
đô thị cổ chứ không phải là mặt sau của thành phố, chỉ có rác thải và phế liệu xây dựng; Một tác phẩm Thuyền khác của nghệ sĩ
Cấn Văn Ân dài 7m, nặng 400 kg được ghép bằng 5000 mảnh gương nhỏ lấp lánh phản
chiếu khung cảnh ven sông và cầu Long Biên thấp thoáng. Chiếc thuyền gác trên vách, gợi nhắc hình ảnh quen thuộc của chiếc
thuyền tôn thường thấy ở những ngôi nhà của người dân làm nghề chài lưới ven
sông, cũng
là phương tiện của người dân vùng lũ; Gánh hàng rong của nghệ sĩ Nguyễn
Thế Sơn là hình ảnh của những người phụ nữ gồng gánh mưu sinh rất phổ biến ở đô
thị cho đến những thập niên cuối thế kỷ XX, là
nguồn lao động tập trung đông đúc khi Phúc Tân là nơi các thuyền bè cập bến
sông Hồng để bán buôn, trao đổi, bốc dỡ hàng hoá chuyển vào khu
vực nội đô;
Xẩm
tàu điện
của nghệ sĩ Phạm Khắc Quang đề cập tới nghề hát rong
của những người lao động nghèo vốn chẳng khi nào vắng bóng ở đô thị, sự có mặt
của họ là hợp phần làm nên nét văn hoá đô thị. Nhà nổi của nghệ sĩ Lê
Đăng Ninh sử dụng các thùng phuy gợi lại ký ức về cuộc sống của những gia
đình người dân nhập cư lênh đênh trên sóng nước sông Hồng, một hợp phần đã từng
làm nên đời sống của dòng sông… Cùng ý tưởng sử dụng thùng phuy, nghệ sĩ Nguyễn
Ngọc Lâm xây dựng Thành phố ven sông bằng hơn 20 thùng phuy sơn màu rực
rỡ chồng xếp lên nhau như những toà cao ốc. Đó là thành
phố ven sông trong tương lai. Nghệ
sĩ người Tây Ban Nha, Diego Cortiza không đi theo hướng ngược về ký ức lịch sử
mà phản ánh cuộc sống ở Phúc Tân bằng những giá trị đương hiện của nó với những
lồng/
bu gà cũ thu gom ở chợ đầu mối Long Biên (gần khu vực Phúc Tân), sơn màu tạo thành những
chiếc lồng đèn độc đáo treo dọc theo bức tường.
Từ những tác phẩm
nghệ thuật công cộng tại Phúc Tân, người xem có thể hình dung ra những mảnh ghép khác nhau của đời sống sông nước từng hiện
diện tại bến bờ sông Hồng với những cảng sông, bến thuyền, nhà phao, nhà nổi,
những gánh hàng rong, những phận đời mưu sinh lặng lẽ… mặc dù diện mạo Phúc Tân
của 100 năm về trước đã hoàn toàn phai dấu, chẳng còn nhiều dấu tích được lưu lại
bằng hiện diện vật chất, đến mức ngay cả cư dân sở tại cũng không hay biết nhiều về
quá khứ từng tồn tại ở chính nơi họ đang sống. Trong nhiều cuộc trò chuyện, người
dân Phúc Tân chỉ đơn giản nói về khu vực ấy là
“bãi rác tự phát, chẳng có gì đáng kể” và rất ngạc
nhiên khi biết nơi đây đã từng tấp nập trên bến, dưới thuyền, là cửa ngõ gắn kết sông Hồng với đô thị Thăng Long - Hà Nội, là đầu mối giao thương buôn bán vận
chuyển hàng hoá bằng đường thuỷ…
Trong bối cảnh đó, thông qua nghệ thuật công cộng Phúc Tân, các nghệ sĩ đã “viết
lại” lịch sử bờ sông bằng những tác phẩm tái sinh từ chính vật liệu rác thải, làm mới di sản ở nơi chỉ còn lại tên gọi. Thay vì cố gắng phục
dựng những gì đã mất, các nghệ sĩ chọn cách sáng tạo với những gì đang hiện hữu:
rác thải, bức tường
cũ, vật liệu phế phẩm… để gợi nhắc quá khứ, mở ra những đối thoại giữa lịch sử
và hiện tại. Ở nghệ
thuật công cộng Phúc
Tân, di
sản ký ức trở thành chất liệu cho sáng tạo, là nguồn cảm hứng để
định hình bản sắc địa phương. Bằng nghệ thuật, di
sản có thể được “viết lại” không phải để thay thế, mà để tiếp nối và làm sống dậy
một phần ký ức đã bị lãng quên. Việc quá khứ được
hồi tưởng và viết lại theo cách của nghệ sĩ không nhằm đóng khung ký ức trong một
hình thức biểu đạt duy nhất, mà mở ra một quá trình diễn giải mang tính đối thoại
và tham gia. Theo quan điểm của Laurajane Smith, di sản không tồn tại như một
thực thể tự thân (Smith 2006: 11) mà được kiến tạo thông qua các thực hành văn
hoá - xã hội của sự ghi nhớ. Dưới góc nhìn này, việc viết lại quá khứ bằng nghệ
thuật tại Phúc Tân có thể được hiểu như một hình thức thực hành di sản sống, trong
đó ký ức không chỉ được gợi nhắc mà còn được sống lại thông qua trải nghiệm, cảm
xúc và sự tham gia của cộng đồng. Nghệ thuật công cộng ở Phúc Tân tạo ra một
không gian ký ức mở để cho các lớp ký ức chính thống và ký ức đời thường cùng tồn
tại và đối thoại. Thông qua các tác phẩm sắp đặt và can thiệp không gian, ký ức
về bến sông, đê điều, lũ lụt, sinh kế, đời sống sinh hoạt đô thị bị lãng quên
hay phai mờ được tái hiện trong mối quan hệ với hiện tại, cho phép cư dân và
công chúng trải nghiệm và tạo ý nghĩa, để di sản tiếp tục sống trong đời sống
đương đại thông qua các thực hành sáng tạo. Nghệ thuật công cộng tại Phúc Tân
đã mở rộng khái niệm di sản vượt ra ngoài các giá trị được thừa nhận bởi chuyên
gia hay thiết chế bảo tồn. Những ký ức từng bị xem là nhỏ lẻ, đời thường hoặc phi
chính thống được đưa vào không gian nghệ thuật công cộng như những yếu tố cấu
thành bản sắc địa phương.
Những ví dụ trên cho
thấy một cách đa dạng, nghệ thuật công cộng tương tác với di sản theo nhiều chiều
cạnh khác nhau góp phần làm nổi bật giá trị di sản ở ba phương diện: tái hiện
quá khứ, diễn giải ký ức và làm mới di sản. Bằng cách đó, nghệ thuật công cộng tái
hiện di sản, trực quan hóa di sản, trong đó có những di sản phi hình tướng, khó
tiếp cận với công chúng do khoảng cách thời gian, khoảng cách thế hệ hay cần đến
những kiến thức hiểu biết nhất định. Những biểu đạt nghệ thuật thể hiện cách tiếp
cận di sản sống động, tái tạo di sản trong đời sống cộng đồng và thúc đẩy thực
hành của người dân. Nghệ thuật công cộng giúp chúng ta nhìn di sản “như là một “động từ” để chỉ hành động thực hành, hơn là một “danh từ”; như là một quá trình mang tính ký ức/lãng
quên” (Hoàng Minh 2014).
Nghệ thuật công cộng thúc đẩy kinh tế trải nghiệm
Kinh tế trải nghiệm (Experience Economy), thuật ngữ xuất hiện trong cuốn
sách The Experience Economy của B. Joseph Pine II và James H. Gilmore,
xuất bản lần đầu vào năm 1999. Kinh tế trải nghiệm chỉ một giai đoạn phát triển
của nền kinh tế mà giá trị được tạo ra không chỉ từ sản phẩm hàng hoá hay dịch
vụ, mà từ những trải nghiệm độc đáo, đáng nhớ mà doanh nghiệp mang lại cho người
tiêu dùng. Trong kinh tế trải nghiệm, trải nghiệm trở thành “sản phẩm” mà người
tiêu dùng sẵn sàng chi trả để được cảm nhận, tận hưởng hoặc tham gia. “Mặc dù bản
thân trải nghiệm thiếu tính hữu hình, mọi người lại khao khát chúng bởi vì giá
trị nằm bên trong chúng, nơi chúng vẫn còn tồn tại mãi về sau. Một trải nghiệm
mua hàng khiến mọi người hạnh phúc hơn là hành động mua hàng” (B. Joseph Pine II
và James H. Gilmore 2022: 5)
Nghệ thuật công cộng
không chỉ tạo ra một công trình thẩm mỹ đặt ở nơi công cộng mà còn mang đến cho
công chúng một không gian để cảm nhận, suy ngẫm, kết nối, tức là trải nghiệm. Nghệ
thuật công cộng ở phố Phùng Hưng hay nghệ thuật công cộng ở Phúc Tân không
đơn thuần là hình ảnh để ngắm nhìn, mà còn gợi mở ký ức, khơi gợi cảm xúc, thu
hút sự tham gia và phản hồi từ cộng đồng, điều đó tạo ra một hình thức tiêu
dùng mang tính trải nghiệm.
Sự “tiêu dùng” ở đây
không giống việc tiêu dùng vật chất hay thông qua hoạt động mua bán để sở hữu sản
phẩm vật chất, mà là quá trình con người tham gia, cảm nhận, và trải nghiệm những
giá trị cảm xúc, thẩm mỹ, văn hoá mà nghệ thuật mang lại. Thay vì kiểu “tiêu
dùng” nghệ thuật theo cách truyền thống (thăm thú ở bảo tàng, phòng triển lãm, ngắm
nhìn tranh), nghệ thuật công cộng mở ra cơ hội để công chúng được tự do chạm
vào tác phẩm, đi vào trong hoặc xuyên qua tác phẩm, tương tác với tác phẩm một
cách trực tiếp. Công chúng có thể chụp ảnh theo những cách sáng tạo của riêng
mình, biến mình thành một chi tiết của tác phẩm, chia sẻ trên mạng xã hội, tạo
nên trải nghiệm cá nhân. Các hình thức sáng tạo nghệ thuật đương đại đã giúp
cho tác phẩm nghệ thuật công cộng có năng lực đặc biệt trong việc kết nối cảm
xúc của công chúng với không gian sống thông qua ký ức, văn hóa, lịch sử được
tái hiện hoặc diễn giải, làm mới. Trong một vài trường hợp, công chúng có thể trực
tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo cùng nghệ sĩ, như ở nghệ thuật công cộng
Phúc Tân, người dân địa phương được trải nghiệm quá trình tác phẩm hình thành
và hoàn thiện. Như vậy, nghệ thuật công cộng không chỉ là thứ để “xem” một chiều
mà trở thành “trải nghiệm để sống cùng”. Đặc biệt những trải nghiệm nghệ thuật
có sự kết nối với di sản thường thúc đẩy người dân địa phương tìm đến với những
giá trị xưa cũ của tiền nhân, để người già được đắm mình trong ký ức, người trẻ
được hiểu và trải nghiệm cuộc sống thời ông bà mình. Đó là hình thức tiêu dùng
mang tính cá nhân, gắn với cảm xúc và chiều sâu văn hoá của mỗi người, một sự
tiêu dùng mang tính trải nghiệm.
Kinh tế trải nghiệm
trong bối cảnh của nghệ thuật công cộng tạo ra một cơ hội trải nghiệm, trong đó
nghệ sĩ đóng vai trò là người thiết lập chủ đề để trải nghiệm hiện lên trong
tâm trí công chúng, đạo diễn không gian, dàn dựng trải nghiệm, dùng nghệ thuật
thúc đẩy công chúng tham gia vào hành trình tương tác với di sản, văn hoá hay
ký ức địa phương.
Có thể ví dụ từ dự án
nghệ thuật công cộng ở phố Phùng Hưng với tác phẩm sắp đặt Máy nước thời
gian của nghệ sĩ Nguyễn Thế Sơn. Máy nước thời gian diễn giải nét
sinh hoạt thời bao cấp đã trở thành di sản nằm trong ký ức tập thể của hầu hết
người dân Hà Nội. Khi tạo dựng một máy nước công cộng có nước chảy, một hàng
dài xô, thùng xếp nối nhau, nghệ sĩ không chỉ kể lại câu chuyện xưa cũ hay diễn
giải những dấu tích từng có của phố Phùng Hưng mà muốn tác phẩm của mình sẽ mời
gọi người xem dừng lại, suy ngẫm về câu chuyện của chính mình, thậm chí muốn
người xem chạm vào tác phẩm, dùng xô, thùng hứng nước, chụp ảnh, hoặc chia sẻ
những hồi ức tương đồng. Sơn chủ ý chọn loại tôn thật dầy để làm xô, thùng, đáp
ứng nhu cầu tương tác, trải nghiệm việc xếp hàng chờ lấy nước ở máy nước công cộng
của công chúng mà không sợ tác phẩm bị phá hỏng. Trong khoảnh khắc ấy, công
chúng không chỉ “đọc” nghĩa tác phẩm do nghệ sĩ tạo ra mà còn gắn kết tác phẩm
với trải nghiệm của cá nhân mình, tạo ra quá trình đồng kiến tạo nghĩa. Di sản
được sống lại không chỉ qua hình ảnh thị giác, mà còn qua dòng ký ức của cộng đồng,
làm cho trải nghiệm trở nên đa tầng và giàu cảm xúc. Nghệ thuật công cộng, dưới
góc nhìn kinh tế trải nghiệm, chuyển vai trò người xem từ thụ động sang chủ động,
góp phần làm sâu sắc thêm giá trị của cả nghệ thuật lẫn di sản. Nghệ thuật trở
thành trải nghiệm để công chúng “tiêu dùng”, thúc đẩy, mời gọi người xem tự đặt
mình vào trong trải nghiệm. Công chúng có thể đi vào tác phẩm (Phúc Tân Gang),
chạm vào (Máy nước thời gian), ngồi lên (Kim vàng giọt lệ, Thánh
Gióng thời hiện đại, bệ gạch hoa), chụp ảnh (cùng tranh vẽ 3D), chia sẻ, cảm
thụ… theo vô vàn cách thức, từ đó, tác phẩm không chỉ để chiêm ngưỡng mà được các
nghệ sĩ thiết kế để công chúng được sống cùng và trở thành một phần trong đó. Nghệ thuật công cộng khắc sâu trải nghiệm của công chúng
bằng việc tạo ra bối cảnh để công chúng tự mình tham gia sáng tạo, tận hưởng,
chia sẻ và ghi nhớ, hình thành một dạng sản phẩm phi vật thể nhưng ấn tượng lâu
dài mãi về sau.
Từ những sáng tạo mới
của nghệ thuật công cộng, công chúng không còn là khán giả thụ động mà trở
thành người đồng kiến tạo nghĩa cho di sản, một yếu tố làm tăng chiều sâu trải
nghiệm di sản. “Trải nghiệm trở thành diễn biến bên trong mỗi cá nhân khi họ
tham gia ở cấp độ tình cảm, thể chất, trí tuệ… Hai người không thể có cùng một
trải nghiệm. Mỗi trải nghiệm bắt nguồn từ sự tương tác giữa sự kiện được tổ chức
và trạng thái tinh thần của cá nhân” (B. Joseph Pine II và James H. Gilmore 2022:
51)
Một câu hỏi được đặt
ra, nghệ thuật công cộng dành cho tất thảy công chúng trải nghiệm miễn phí, vậy
nó liên quan gì đến kinh tế hay kinh tế trải nghiệm, một lĩnh vực tưởng chừng
chỉ xoay quanh hành vi tiêu dùng gắn với trao đổi vật chất, tiền tệ? Mặc dù nghệ
thuật công cộng thường dễ tiếp cận và miễn phí, nhưng nó không nằm ngoài phạm
vi của kinh tế, nếu nhìn qua lăng kính của kinh tế trải nghiệm. Kinh tế trải
nghiệm coi trải nghiệm là giá trị mà không nhất thiết phải gắn liền với hành vi
trao đổi giá trị bằng tài chính. Kinh tế trải nghiệm nhấn mạnh đến việc trải
nghiệm trở thành một giá trị có thể được tạo ra, trao đổi và tiêu dùng. Nghệ
thuật công cộng là một hình thức cung cấp trải nghiệm giàu cảm xúc, có chiều
sâu văn hoá và đây chính là một “sản phẩm” của kinh tế trải nghiệm. Dù người
xem không mua vé, họ vẫn tiêu dùng một trải nghiệm được tạo ra bởi ý tưởng sáng
tạo, công sức của nghệ sĩ và cộng đồng.
Nghệ thuật công cộng
có thể tạo ra những hiệu ứng kinh tế khi góp phần cải thiện giá trị bất động sản
khu vực, thu hút du khách đến tham quan, đồng thời kích thích các hoạt động
tiêu dùng, dịch vụ đi kèm như quán cà phê, nhà hàng ăn uống, giải khát, du lịch,
dịch vụ lưu trú và thương mại lân cận. Trong một lần sang thi đấu với đội tuyển Việt Nam Giải vô địch Đông Nam Á
(AFF Cup) vào tháng 12/2022, đội tuyển bóng đá Malaysia đã dành thời gian trải
nghiệm uống cà phê ở phố Cửa Đông và cùng nhau chụp ảnh tại không gian nghệ thuật
công cộng Phùng Hưng.
Như vậy, dù không thu
phí, nghệ thuật công cộng vẫn có ý nghĩa kinh tế thông qua trải nghiệm mà nó tạo
ra. Giá trị của nó dịch chuyển từ “vật thể” sang “trải nghiệm”. Nghệ thuật công
cộng tạo ra những trải nghiệm có thể tiêu dùng qua kênh thị giác, xúc giác hay ký
ức. Việc người dân tìm đến không gian nghệ thuật công cộng chụp ảnh, chia sẻ, kể
lại hoặc hồi cố về một điều gì đó từ quá khứ theo cách của người hiện đại, tất
cả đó là dạng tiêu dùng phi vật chất nhưng có sức lan tỏa và ảnh hưởng sâu rộng,
cả về văn hoá lẫn kinh tế. Nghệ thuật công cộng có thể miễn phí, nhưng trải
nghiệm mà nó tạo ra có giá trị tiêu dùng.
Ngoài ra, sự hiện diện
của các tác phẩm nghệ thuật công cộng cũng tác động đến giá trị kinh tế theo những
cách gián tiếp như gia tăng sức hấp dẫn không gian công cộng, thu hút dòng người,
thúc đẩy tiêu dùng dịch vụ xung quanh như ăn uống, du lịch, lưu trú, nghỉ dưỡng,
đồng thời củng cố hình ảnh thương hiệu cho thành phố. Nghệ thuật trở thành nguồn
lực mềm, một hình thức “tài sản trải nghiệm” mà các đô thị hiện đại khai thác để
phát triển cả về văn hóa lẫn kinh tế. Nghệ thuật công cộng trở thành một phương
tiện sản xuất trải nghiệm, có khả năng phát triển kinh tế gắn với di sản và văn
hóa. Có thể phát triển nghệ thuật công cộng như là một mắt xích trong nền kinh
tế trải nghiệm, khi mà tiêu dùng không còn đơn thuần là hành vi mua bán, sở hữu
vật chất mà là sự tham gia sâu vào hành trình của cảm xúc, tri thức và nhận thức
vốn phi hình tướng.
*
* *
Laurajane Smith lập
luận rằng di sản không phải là một thực thể tồn tại sẵn hay một tập hợp các giá
trị bất biến được truyền từ quá khứ mà là một quá trình văn hoá - xã hội được
hình thành thông qua các thực hành, diễn ngôn và trải nghiệm trong bối cảnh hiện
tại. Theo cách tiếp cận này, ý nghĩa di sản không có sẵn mà được kiến tạo thông
qua các hành động xã hội như hồi tưởng, ghi nhớ, kể chuyện và sự tham gia của
các chủ thể đương đại. Thay vì nhìn nhận là dấu tích của quá khứ, di sản được
coi là “sống” khi được con người thực hành, tái trình hiện, tưởng nhớ và diễn
giải trong đời sống hiện tại. Từ cách tiếp cận này, nghệ thuật công cộng không
phải là một hình thức minh hoạ di sản mà như một tình huống văn hoá, trong đó ký
ức được thực hành một cách sống động. Sự sáng tạo của nghệ sĩ, sự tham gia của cộng đồng địa phương, sự
tương tác và trải nghiệm của công chúng trong không gian nghệ thuật công cộng có
thể được xem là một thực hành ghi nhớ về ký ức chung, những ký ức được tập thể
hoá và trở thành giá trị. Khung lý thuyết của Smith cung cấp cơ sở quan trọng để
nhìn nhận nghệ thuật công cộng như một hình thức thực hành di sản sống, trong
đó quá khứ được kết nối với hiện tại thông qua trải nghiệm và sự tham gia của cộng
đồng.
Thực tế, dù không
mang lại lợi nhuận trực tiếp, nghệ thuật công cộng vẫn tạo ra giá trị kinh tế
theo những cách gián tiếp và phi truyền thống. Nghệ thuật công cộng tạo ra
không gian hấp dẫn, thúc đẩy du lịch, ghi dấu ấn bản sắc địa phương, đồng thời
sản sinh những trải nghiệm độc đáo mà con người khao khát tiêu dùng trong đời sống
đô thị hiện đại. Chính sự lan toả của trải nghiệm với chiều sâu cảm xúc, sự gắn
kết cộng đồng và khả năng ghi nhớ lâu dài đã khiến nghệ thuật công cộng trở
thành một phần quan trọng của kinh tế trải nghiệm khi người ta nhận ra giá trị
nằm ở cảm xúc và tương tác mà không phải là ở vật thể hữu hình.
Trong bối cảnh phát
triển đô thị và du lịch hiện nay, nghệ thuật công cộng đang nổi lên như một
phương thức sáng tạo kết nối di sản và giá trị trải nghiệm tại các không gian
công cộng. Không chỉ góp phần tái hiện, diễn giải, làm mới di sản dưới góc nhìn
đương đại, nghệ thuật công cộng còn tạo ra những trải nghiệm thẩm mỹ, hình
thành các hình thức tiêu dùng trải nghiệm mới. Nếu trước đây sự hấp dẫn của một
điểm đến thường gắn với ẩm thực, sản phẩm lưu niệm hay các địa danh nổi tiếng
thì ngày nay, trải nghiệm di sản tại không gian nghệ thuật công cộng có thể trở
thành yếu tố quan trọng làm nên sức hút văn hóa của đô thị. Sự kết nối giữa nghệ
thuật công cộng, di sản và kinh tế trải nghiệm vì thế không chỉ mở rộng cách tiếp
cận đối với giá trị di sản, mà còn gợi mở hướng phát triển không gian sống và
hình ảnh thành phố trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
B. Joseph Pine II,
James H. Gilmore (2022), The Experience Economy, Trần Xuân Hải và nhóm
Missionizer dịch, Nxb. Công thương, Hà Nội.
Cliodhna Shaffrey (2015) What is Public Art? Irish Museum of
Modern Art -IMMA
Vân Hoa (2022), “Tuyển
Malaysia đến phố bích họa Phùng
Hưng trước trận đấu với Việt Nam”, https://laodong.vn/du-lich/tin-tuc/tuyen-malaysia-den-pho-bich-hoa-phung-hung-truoc-tran-dau-voi-viet-nam-1131345.html. Ngày truy cập 23/12/2023.
Hoàng Minh (2014),
“Di sản văn hoá phi vật thể: Nhận diện, bảo tồn và nghiên cứu”, Tạp chí Văn
hoá học, Số 6 (16), ISSN: 1859-4859.
Hồ Nam (2023), “Nghệ
thuật công cộng trong không gian đô thị qua cách tiếp cận một số hình thức nghệ
thuật đương đại”, https://tapchimythuat.vn/nghe-thuat-cong-cong-trong-khong-gian-do-thi-qua-cach-tiep-can-mot-so-hinh-thuc-nghe-thuat-duong-dai/. Ngày truy cập 9/12/2025.
Smith, L. (2006),
Uses
of heritage,
London & New York: Routledge.
UNESCO (2003),
Công
ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể, https://ich.unesco.org/doc/src/00009-VI-PDF.pdf
Bài viết đầy đủ có
tại: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, Số 6 (222), 2025