Dàn xếp không gian từ điểm nhìn vũ trụ luận vật linh của người Thái ở Tây Bắc, Việt Nam
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Dàn xếp không gian từ điểm nhìn vũ trụ luận vật linh: Nghiên cứu trường hợp người Thái ở Tây Bắc, Việt Nam” của TS. Phạm Đặng Xuân Hương và TS. Đỗ Thị Thu Hà (Viện Nghiên cứu Văn hóa).

Là tộc người
sinh tụ lâu đời ở các vùng thung lũng dưới chân núi gắn với hai tiểu môi trường
nước và rừng, các cộng đồng người Thái ở Tây Bắc, Việt Nam đã sớm xây dựng các
thể chế văn hóa nhằm điều tiết mối quan hệ bền vững
giữa con người và các thành tố môi trường tự nhiên xung quanh. Vũ trụ quan sinh
thái của người Thái mà ở đó mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên được
quản lý bởi thế giới siêu nhiên và quyền lực ma thuật đã và đang là thiết chế
văn hóa quan trọng trong đời sống thường ngày của tộc người, chi phối các hoạt
động sinh kế, dàn xếp không gian, kiến trúc nhà cửa.
Các ngữ liệu
cho thấy, đời sống Thái luôn được vận hành trong chuỗi
tương tác trực tiếp giữa con người và các sinh thể tự nhiên (đất,
nước, rừng, cây,...) được nhìn nhận như những chủ thể có linh hồn,
có nhân tính (personhood), với đầy đủ năng lực ý chí và khả năng
tự quyết mà người Thái gọi là phi. Các chủ thể này không đơn
thuần là những vật thể vô tri chịu sự tác động một chiều từ phía con người mà
là những "tác nhân xã hội tự thân" (Pamela, 2016), kiến tạo nên một
"tập thể" (Descola, 2005) không có sự phân biệt giữa con người (human) và các yếu tố phi nhân
khác (non-other-human). Có thể nói, mạng
lưới con người và các yếu tố phi
nhân đã cùng
tham gia vào việc kiến tạo nên cả cảnh quan môi trường lẫn thiết chế xã hội
riêng của người Thái, hình thành nên một không gian và cấu trúc xã hội Thái
"không chỉ có con người mà còn bao gồm các thực thể tự nhiên có
linh hồn" (Condominas, 1957). Điều này hình thành nên một phương thức giao
tiếp với các hữu thể tự nhiên thông qua các kiêng kỵ, các nghi lễ,
những lời cầu khấn, các hành vi ma thuật,... trên tinh thần tôn trọng, bình đẳng
- thay vì sự khai thác, chiếm hữu, tước đoạt, tàn phá chỉ từ phía con người.
"Bản
đồ có sự tham gia" và những không gian thiêng trong bản mường Thái
Nhiều
nghiên cứu cho thấy, đến tận trước những năm 1980, ở nhiều bản làng Thái vẫn giữ
các khu rừng thiêng (đông sựa mường/ đông sựa bản), rừng nguyên
sinh nằm ở trên đầu các con suối (pá
hùa
ta, pá hùa bó)
để
phục vụ cho các thực hành tôn giáo tín ngưỡng của người
dân trong bản mường (xem Cầm Trọng, 1978; Hoàng Cầm, 2000, 2009). Những không
gian thiêng này liên quan tới ý niệm về vị thần chủ đất, nước, núi, rừng, sông,
suối nơi con người cư trú, tác động trực tiếp tói vận mệnh của họ và của cả bản
mường. "Đó là những loại ma thuộc dạng tự nhiên, là linh hồn
của
từng con núi, khe suối, sông, cánh rừng... mà bản phải theo tập tục cúng tế";
là "những nhân vật thần thoại có công khai thiên lập địa, tạo ra thế giới
tự nhiên và công cuộc lao động sản xuất" (Cầm Trọng, 1978: 390). Các bộ luật
tục của các mường Thái còn lưu lại cũng ghi chép rõ về tên và vị trí cư ngụ của
các ma thần này, "mường nào cũng có minh
bản nen mường,
có khúc sông sâu, suối lớn nơi chứa đựng các loài
cá, có núi rừng rợp bóng bản mường" (Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng, 2012: 44).
Đồng thời, lệ cúng tế vào các thời điểm trong
năm, vị trí cúng cũng như vật hiến tế cũng đều được ghi chép chi tiết trong luật
tục của bản mường.
Dữ liệu trên
cho thấy, không gian, cảnh quan bản mường của người Thái hoàn toàn có thể là một ví dụ
sinh động cho khái niệm được Nicolas Arhem gọi là "bản đồ có sự tham
gia" - bản đồ cảnh quan có sự xuất hiện của các khu vực tự nhiên linh
thiêng, khu vực của các linh hồn theo quan điểm tín ngưỡng của người dân bản địa,
bên cạnh những khu vực sản xuất, sinh sống của con người (Nicolas Arhem, 2014:
363). Đất bản, đất mường (đìn bản, đìn mương) của người Thái
không thể chỉ được "liệt kê" một cách
"thiếu cảm xúc" bao gồm vùng đất ở, vùng rừng, vùng nước,... như đã
được mã hóa trong các bản đồ chính thức được lưu hành trong các cơ quan nhà nước,
mà cần được đánh dấu bởi sự xuất hiện của các không gian thiêng, các vùng cấm,
nơi chủ thể của nó là các thần linh, các linh hồn, các
loài ma,... Nói cách khác, cảnh quan lãnh thổ trong vũ trụ vật linh
người Thái luôn được phân chia thành hai loại: không gian linh thiêng (nơi các
hoạt động của con người được điều chỉnh bởi những điều cấm kị, tục kiêng cữ với
những lực lượng siêu nhiên vô hình) và không gian sản xuất, sinh hoạt truyền thống
(nơi các hoạt động sinh kế và ăn ở của con người được luật tục và thể chế xã hội
cho phép).
Có thể hình dung về một
"bản đồ có sự tham gia" của các thần, ma, hồn trên lãnh thổ người Thái
sinh sống, trong sự tương tác của con người với ba nguồn tài nguyên quan trọng
đất - nước - rừng.
Sống với “phi” nơi đất bản
Thiết
chế xã hội theo truyền thong tại nhiều vùng Thái ở
Việt Nam là bản-mường-châu mường, trong
đó bản
là
đơn vị cư dân hạt nhân, nhiều bản tập hợp thành mường, các mường tập hợp lại với nhau
tạo thành một thể chế liên mường
mà người Thái gọi là mường luông
(mường lớn). Trong tiếng Thái, vốn là một động từ có nghĩa là đôn, đôn lại (áp dụng đối
với cả con vật, đồ vật, người...), ví dụ “bản
ải nọng khảu bón điêu" nghĩa
là "dồn anh em vào một chốn". Từ nghĩa
hành động (động từ), đã chuyển nghĩa thành sự vật, hiện tượng (danh từ) để chỉ về một địa
điểm có thê tập hợp được cư dân, trong đó có nhiều gia đình hạt nhân, thuộc các
dòng họ khác nhau, cố kết với nhau bằng quan hệ huyết thống, hôn nhân, láng giềng,
cùng sinh sống trên một vùng đất thung lũng, được tưới và bồi đắp bởi phù sa
sông, suối - tức là vừa có đất, vừa có nước, đủ điều kiện để khai phá thành
ruộng lúa. Có ruộng mới thành bản, và ranh giới giữa các thửa ruộng cũng trở
thành ranh giới tự nhiên của các bản/đất bản (đìn bản): “Na tó na diên bản/
Bản tó bản cả cát diên cằn” (Ruộng tiếp ruộng liền bản/ Bản
liền bản san sát bên nhau). Với người Thái, bản còn có tên kép là na (bản ruộng)
là
vì vậy. Trên đất bản, người Thái cũng đồng thời canh tác ruộng nương, trồng vườn,
chăn nuôi gia súc, đào ao thả cá... để có thêm nguồn thức ăn,
tạo nên một cảnh quan tổng thể của bản, mường.
Phi bản phi
mường (ma bản ma gồm linh hồn của mọi thành viên trong một
đơn vị cư trú (bản, mường), liên quan đến ý niệm bản mường là một thể thống nhất
có nhiều linh hồn và một linh hồn chủ (Cầm Trọng, 1978: 286). Bản, mường được
hình dung là một ngôi nhà khổng lồ nơi có nhiều hồn cùng cư ngụ, nên cũng cần
có cột bản cột mường (lắc bản,
thứ cột trụ thường được tượng trưng bởi người đứng đầu bản, đầu mường. Tục cũ
quy định, khi hình thành một bản mới, người đứng đầu (chảu
xửa) phải làm lễ cúng xin chủ
đất (chảu đin) rồi tiến hành chôn một
cây cọc nơi cửa ngõ lối vào của bản. Chỗ chôn cọc được gọi là cột được chôn gọi
là "lắc xửa" hay
“lắc bản”.
Từ thời điểm đó, mọi nghi lễ quan trọng của
bản như cúng bản, cúng mường (xên bản, xên mường) đều phải được tiến hành tại khu vực lắc xửa này. Lắc xửa được coi là
nơi chứa đựng linh hồn (phi)
của bản.
Tín
ngưỡng về linh hồn (phi)
của người Thái độc đáo ở các quan niệm về minh,
nén, khớ.
Minh
là nền để linh hồn trụ. Là trục mọc thành hình
chóp như măng mọc nên mới có tên là măng
nén (nó nén). Đỉnh chóp của nén
nối với một sợi dây vô hình nén)
để buộc vào cái móc (kho nén)
chạn của Then bẩu Chết đồng nghĩa với khái niệm dây đứt, móc rơi, măng đổ. Khớ còn gọi là khọk với nghĩa là mệnh.
Người Thái quan niệm mệnh người mong manh như sợi chỉ bông nên gọi là khớ khớ). Dây khớ đứt là chết, đồng
nghĩa với mệnh tận, thân xác về với đất, với rừng, hồn về mường trời với tổ tiên. Có linh
hồn người thì cũng có minh, nén
người; có linh hồn nhà thì cũng có nhà; có linh hồn mường thì cũng có minh, nén mường. Để tượng trưng
cho minh, nén của chủ nhà,
người Thái thường trồng một bụi chuối trước cửa. Để tượng trưng
cho minh,
nén của bản, người Thái
thường chọn một quả núi ở đầu hoặc trước mặt của bản, gọi là ngọn núi pom minh nén (núi linh hồn của bản).
Để tượng trưng cho minh,
nén
của mường, người Thái thường chọn một quả núi ở bản trung tâm của mường (bản chiềng) gọi là pom
minh mướng hoặc pom nén mướng
(núi linh hồn của mường). Trên các ngọn
núi
này đều phủ kín một khu rừng nguyên sinh. Bên dưới chân ngọn núi, người ta cắm lắc mương (cột linh hồn của
mường). Theo Quam tô mương,cột
này làm bằng đồng, trời đã giáng xuống cho các mường người
Thái. Trên thực tế, các lắc mương
của
các mường xưa làm bằng lũa (gỗ) của các cây tứ thiết (Cầm
Trọng, 2005: 245). Các khu vực linh thiêng này chỉ đê thực hiện các nghi thức
cúng, tế, ngày thường cấm mọi người xâm phạm.
Xuất
phát từ quan niệm về phi đin, phi bản,
phi mường,
người Thái cho rằng mọi thực hành sinh kế của họ đều nằm dưới sự điều chỉnh,
cai quản, hỗ trợ của các linh hồn, thần linh, mà người đứng đầu là Chảu đìn/ Phi đìn (chủ đất), phân cấp thứ bậc thành các linh hồn
chủ khác, ngụ tại các không gian cụ thể. Một mảnh ruộng cũng có hồn có vía, vì
thế, những chiếm giữ đầu tiên đều phải có thao tác (cắm cọc) và lời thưa xin với
phi na (ma ruộng).
Đưa nước vào ruộng theo con đường của phai, tức là xin nước của
thần nước, phai
thành đường đi của thần nước, vì vậy phải làm lễ xén
(cúng phai), dâng lễ vật là một con lợn cho chủ nước. Lễ có thể làm riêng hoặc
làm chung trong lễ xên
(cúng mường). Cũng như vậy, muốn làm chủ một mảnh nương, một vạt gianh, một khoảnh
rừng,... đều phải có lời thưa với vị hồn chủ tại nơi đó. Người Thái kiêng phát
nương hết đỉnh đồi, không canh tác tại chỏm rừng trên đỉnh đồi, bởi đó là khu vực
phi hay (chủ nương, hồn
nương) trú ngụ, gọi là chỏm khuồn (chỏm hồn).
Mỗi khi đến mùa làm nương rẫy, người ta phải đến
khóm rừng này để cúng nương (tam hay).
Trong
việc dựng nhà cửa, người Thái kiêng dựng nhà trước các cửa khe vực. Họ cho đó
là đường đi của chảu nặm (chủ nước), nếu
dựng nhà tại đó sẽ gặp thiên tai, lũ lụt. Tục ngữ Thái có câu "hua mun đin, tin mun nặm"(đầu gối
đất, chân kề nước) có nghĩa là người trong nhà nằm ngủ
quay đầu về hướng núi, và duỗi chân ra phía đồng ruộng giáp bên sông, suối, đã
cho thấy phần nào cách lựa chọn vị trí dựng nhà ưa thích. Tại khu vực cư trú,
người Thái ở nhiều nơi thường dựng một ngôi nhà nhỏ đê thờ vị thần đất
(chảu
đin), nơi mỗi khi có
biến cố, gia chủ thường có lời thưa, xin thần bảo trợ để cuộc sống của
con người trên đất ở được yên ổn.
Sống
với "phi" trong nước
Là
cư dân chọn việc canh tác ruộng nước làm nguồn sống chính, có truyền thống định
cư lâu đời ven các dòng sông, suối, người Thái ở Tây Bắc rất coi trọng nước. Nước
đóng vai trò tối quan trọng trong các hoạt động sinh kế, sản xuất lương thực
(trồng lúa nước, đánh bắt thủy hải sản); trong đời sống sinh hoạt thường ngày
và trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng tộc người. Nước cũng là tiêu
chí quan trọng đầu tiên trong việc người Thái chọn nơi dựng bản lập mường, kiến
tạo thiết chế xã hội bản mường. Người Thái có câu "Xá khửn toi phay, Tay kin toi nặm” (Xá lên theo lửa, Thái ăn theo nước)
và "Mí nặm chắng mí
mương, mí mương chắng mí tạo" (Có
nước mới có mường, có mường mới có tạo), "O lóc
mi
nong, xong
hươn mi bản” (Một vũng nước
nhỏ cũng nên ao, hai nhà cũng nên bản) thể hiện rõ vai trò quan
trọng của yếu tố nước
trong đời sống Thái.

Đối với người
Thái, có ba loại nước
có thể sử dụng trong đời sống là (1) nước
mưa, (2) nước mặt
(sông, suối, khe, hồ...) và (3) nước
ngầm (nước mó, bỏ...). (1) Nước
mưa được xem là nước tự nhiên của trời, có ý nghĩa quan trọng đối
với đời sống sinh hoạt của cư dân Thái tại các
vùng không có nhiều sông, suối, ao hồ, đồng thời cũng ảnh hưởng lớn đến sự tích
tụ, lắng đọng nước ngọt và hệ thống tưới tiêu ở nhiều nơi. Người Thái quan niệm
“Phạ
phôn côn hảo”
(Trời mưa thì người khỏe) và ngược lại, nếu
trời không mưa, hạn hán kéo dài thì con người, động thực vật
dưới mặt đất sẽ chết chóc, khô hạn. (2) Nước
mặt (nước sông, suối,
khe, hồ) là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng sẵn có, đáp ứng các nhu cầu thiết
yếu trong sản xuất và sinh hoạt của bản làng Thái. Mỗi khúc sông, suối, khe, hồ
lại có thể có ý nghĩa riêng đối với đời sống. (3) Nước
ngầm (mó, bỏ) là mạch nước chảy ra từ lòng đất hay các khe đá sâu
hàng trăm mét, đùn lên tương đối lớn, đủ sinh hoạt cho cả bản hay vùng dân cư.
Đây không chỉ là nguồn nước dùng trong sinh hoạt hằng ngày mà còn là nơi cung cấp
nước tưới cho nhiều khu ruộng nước.
Tuy
nhiên, cũng giống như ý niệm về cảnh quan trên đất, không gian nước, đặc biệt
là những khu vực mạch nước ngầm (mó, bỏ) hay khu vực đầu
nguồn, nước chảy xiết tại các con sông, suối lớn (ta
luông, vẵng hảm) luôn trùng khớp với những
khu vực "được đánh dấu bởi thần linh" trong vũ trụ quan người Thái. Ở
hầu khắp các vùng Thái, các khu vực nước này đều được coi là không gian thiêng,
nơi trú ngụ của Chảu nặm (chủ nước). Chảu
nặm được hình dung là có
hình hài của con thuồng luồng (tô ngượk) to lớn, hung
dữ,
có sức mạnh phi thường, có thể tạo ra sông, suối, sấm
chớp, lũ lụt. Mỗi một bỏ nước lại có một câu chuyện cụ thể liên quan đến tô
ngược hay Pua Ngược khác nhau.
Tại
bản Chiềng Châu, xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu (Hòa Bình), truyền thuyết gắn với
bỏ cuông kể rằng: Xưa kia
bỏ cuông rất
lớn
và là nơi ở của một con thuồng luồng. Một buổi trưa nọ, cô gái họ Mạc xinh đẹp
đi gội đầu ở bỏ cuông
và bị thuồng luồng bắt làm vợ. Ông bố cô gái nghe tin rất tức giận liền sai dân
làng lấy đất, đá đắp nơi thuồng luồng ở nên bỏ
cuông mới nhỏ như hiện tại. Trong kho tàng văn học dân gian Thái,
motif thuồng luồng
hóa thành người rồi sau đó kết hôn với các cô gái xinh đẹp rất phổ biến. Tuy
nhiên, việc người Thái Mai Châu sử dụng motif này gắn với một địa danh, một bó nước cụ thể lại nằm trong
ý đồ riêng của tác giả dân gian. Trong lịch sử của người Thái Mai Châu, dòng họ đầu
tiên đến khai phá cánh đồng Mường Mùn và trở thành dòng họ tạo ở đây là họ Mạc. Họ Mạc
tự nhận mình là con cháu thuồng luồng (hiện nay con cháu trong dòng họ vẫn còn
giữ tục không giết và ăn thịt rắn - một con vật theo quan niệm dân gian là thuộc
họ thuồng luồng).
Được gắn với
câu chuyện linh thiêng như vậy, các quy định do phong tục tập quán nhằm bảo vệ
nguồn nước đều được mọi người tuân thủ. Theo Hoàng Cầm (2004), tín ngưỡng dân
gian truyền rằng, nếu ai rửa chân tay, vứt đồ bẩn, mổ gà vịt, hay dắt
trâu bò đi qua bỏ
nước sẽ bị thuồng luồng bắt mất hồn. Những cây to xung quanh bỏ nước được coi là nằm dưới
quyền quản lý của con cái dòng họ Mạc xưa và nếu ai đụng đến sẽ bị ốm hoặc chết.
Những người nào đã vi phạm đến các quy định trên đều phải làm lễ cúng. Quy mô
buổi lễ to hay nhỏ phụ thuộc vào mức độ vi phạm, và thường đồ cúng là lợn, chó,
có trường hợp là trâu.
Cũng
tại xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu (Hòa Bình), nhưng ở một bản khác - bản Bỏ có
câu chuyện riêng về con thuồng luồng Bả
cút
(ông cụt đuôi) ngự tại bỏ cuông nơi cung cấp nguồn
nước tưới lớn nhất cho cánh đồng Mường Mùn trước đây. Truyền thuyết cho rằng Bả cút chính là do một bà
già họ Ngần ở bản Bỏ (xã Chiềng Châu) đi xúc cá nhặt được trứng, sau đó đem về
cho gà ấp nở thành. Khi lớn lên, Bả cút đi tìm đất để khơi nước tưới ruộng
cho mẹ và bỏ cuông (luông) được hình thành từ đó. Trong quan niệm của người
Thái Mai Châu, thuồng luồng trở
thành vị thần đem nguồn nước đến cho toàn mường. Dòng họ Ngần bản
Bỏ được coi là dòng họ sinh ra bả
cút, nên trước đây những
công việc thờ cúng thần nước toàn vùng đều do người dòng họ
Ngần chủ trì. Ngoài ra, những người làm công việc thờ cúng thuộc
dòng họ Ngần còn được cấp ruộng, miễn thuế và phu phen tạp dịch.
Do Bả cút có vai trò quan trọng
trong đòi sống tinh thần của người dân ở noi đây nên
nơi ở của bả cút tức hồ bỏ
luông luôn được mọi người giữ
gìn, bảo vệ. Trước đây, vào dịp đầu năm, tạo mường sẽ tổ chức lễ cúng để tạ ơn thần nước bả cút. Những lúc hạn hán, tất cả thành viên
trong vùng sẽ tập trung tại bỏ luông để tổ chức cúng
xin thần bả cút
ban cho nguồn nước. Những khu rừng trên đầu nguồn và cây cối xung quanh hồ nước
được coi là thuộc quyền quản lý của thần và luật tục cấm tất cả các hoạt động
xâm hại đến cây cối và những khu rừng này.
Ngoài
không gian bó, mỏ nước ngầm, một
số địa vực khác như vẵng hảm
(khúc sông, suối nước sâu, có nhiều loài cá sinh sản, nởi tổ chức ngày
hội đánh cá của toàn vùng), hùa
bó, hùa ta (đầu nguồn nước
đổ vào sông, suối hay ao lớn, hang động lớn) cũng
được quan niệm là noi trú ngụ, cai quản của
Chảu nặm.
Sống với "phi" ở rừng
Từ xa xưa, người
Thái đã sớm nhận ra rừng là một trong những thành tố quan trọng nhất tạo nên sự
cân bằng sinh thái trong các thung lũng bồn địa. Tục ngữ Thái có câu "Pá lỏ phồm, lỏ xũ pảy đìn” (rừng là ô, là tóc của
đất), và "Đìn mết pá nặm hảnh, pu mết mạy đìn tài, đìn tài
tênh lài báu nhăng đảy" (Đất hết rừng
thì nước cạn, núi hết cây thì đất chết, đất
chết thì hết sự sống) thể hiện rõ vai trò quan
trọng của rừng đối với sự ổn định khí hậu và duy trì sự sống trên trái đất. Giữ
rừng chính là giữ nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa, rừng
còn là nơi cung cấp cho con người nhiều thứ cần thiết cho đời sống: nguồn thức
ăn, thực phẩm hằng ngày như các loại rau, măng, nấm, các loại côn trùng,
các loại thú săn bắt; nguồn cung cấp cây gỗ làm nhà, làm thuốc nhuộm, làm dụng
cụ lao động, sinh hoạt, và các dược liệu quý. Người Thái nói "Căm khảu dú nẳng đìn, căm kìn dú nẳng pá” (Miếng cơm ở trong đất, thức
ăn ở trong rừng) hay “Căm kìn phủ tạo dú nẳng hỉnh, nẳng xá; căm kìn
dân pay dủ
nẳng pá,
nẳng
pu” (Miếng ăn của quan ở trong tủ, trong chạn; miếng
ăn của dân thường thì ở núi, ở rừng) là nhằm khẳng định nguồn nuôi dưỡng vô tận
từ rừng. Rừng cũng là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc người Thái
chọn nơi dựng bản lập mường, kiến tạo thiết chế xã hội mường
lớn, mường
nhỏ; bởi trong xã hội Thái
trước đây, để một cộng đồng dân cư được công nhận là mường, bên cạnh
các tiêu chí về số người, số bản, đất canh tác..., còn là buộc phải có năm cánh
rừng và một cái ao chung của mường. Năm cánh rừng đó là: rừng vào mường (đông tu tỉ),rừng ra mường
(đông tu xửa), rừng cúng (đông xên), rừng
kiêng
(đông căm),
rừng
ma (pá heo). Sự
trù phú, đa dạng, giàu có của rừng trên đất mường cũng là thước đo để đánh giá sự
giàu sang của mường: “Nang
ni, nộc,
quàng, phan, hẹt; Ngoạng họng
xánh đông luông; Chắng men puồng mường hăng” (Vượn, chim, nai, hoẵng, tê giác; Ve ngân vang
rừng già; Mới là mường giàu sang) (Cà Chung, Phạm Văn Tuân, 2020: 208).
Để bảo vệ rừng,
người Thái ở Sơn La cũng như người Thái tại nhiều nơi đã chia rừng tự nhiên của
họ ra thành nhiều loại khác nhau. Về mặt vị trí, địa vực tự nhiên và mục đích khai
thác, sử dụng, có một số loại rừng như: (1) Rừng đầu nguồn (tiếng Thái gọi là pá
hùa bó;
pá hùa ta hay đông
ngượk; (2) Rừng
kiêng/rừng cấm nơi đầu mường (đông
căm); (3) Rừng để làm
nương rẫy (pá láu); (4) Rừng
cấm để khai thác (như lấy măng, nấm), hoặc săn bắt chung theo quy định thời
gian của cộng đồng (pá húa/ đon húa; pá nó hảm); (5) Rừng ma,
nơi chôn cất tổ tiên (pá heo); (6) Rừng hoang sơ, xa khu dân cư (pá
đồng
xông cốt). Về mặt thể chế
xã hội, có hai loại/khu vực rừng chính: (1) rừng cấm (hoặc khu vực
nào đó trong rừng cấm), không được phép khai thác theo quy định của luật tục
(ví dụ rừng đầu nguồn, rừng ma, rừng măng cấm…) và (2) rừng /
khu vực rừng
được phép khai thác chung. Cách
phân chia và các quy định quản lý, bảo vệ trực tiếp bởi cộng
đồng bản mường như thế này đã giúp cho người Thái ở nhiều nơi thuộc khu vực Tây
Bắc Việt Nam giữ được nhiều cánh rừng bạt ngàn cùng với sự đa dạng của nhiều loại
động, thực vật quý hiếm.
Cũng như các tài
nguyên thiên nhiên khác, rừng trong vũ trụ quan sinh thái được xem là một thực
thể, có linh hồn, có nhân tính mà người Thái gọi chung là
phi pá (ma rừng). Khu
rừng nào càng rậm rạp, càng nhiều cây to, lâu năm thì càng có nhiều phi pả trú ngụ. Giống
như mô tả của Nicolas Arhem về người Kaleum (Nicolas Arhem, 2014: 372), người
Thái ở Tây Bắc Việt Nam trong lịch sử cư trú lâu đời cũng đã sớm kết hợp rất rõ
ràng giữa tính chất đa dạng sinh học của khu rừng với tính chất quan trọng về mặt
tín ngưỡng. Rừng già cũng có nghĩa là rừng thần, rừng thiêng. Và trong nhiều
trường hợp, việc đánh dấu một khu rừng bằng sự chế ngự của thần linh như vậy mới
thực sự là lý do cho việc những khu vực này đã được quản lý một cách bền vững
trong nhiều thế kỉ.
Rừng thiêng hay
khu rừng có sự chế ngự của thần linh với người Thái bao gồm rừng đầu nguồn,
rừng ma và rừng cấm (nơi tổ chức các lễ cúng bản, cúng mường). Những
khu rừng này chiếm một phần lớn diện tích cảnh quan của bản mường, chứa đầy những
huyền thoại, chuyện kể truyền miệng và thấm đẫm ý nghĩa tâm linh, tín
ngưỡng.
(1)
Rừng
đầu nguồn (pá hùa bó, pá hùa ta
hay đông ngượk) là khu rừng
um tùm ở đầu nguồn các sông suối và các mạch nước ngầm. Tín ngưỡng dân gian coi
các khu rừng này chính là "nhà" của thần linh/ma cai quản nguồn nước,
làm chủ nguồn nước (tiếng Thái gọi là phi hua bó (ma đầu nguồn)
hoặc pua ngượk (vua thuồng luồng). Tại
đó, chủ nước (chảu nặm) ngự
trên những cây cổ thụ to lớn, có hình thù kỳ quái. Người
Thái có câu “cò hay mương phạ, cò bả mương bôn, mạy pền khồn, côn pền nuốt, phít lột báu
pền
hẳm"
nghĩa là cây cổ thụ có râu như cụ già chính là cây đa, cây si
của mường trời, mường then. Nếu phá rừng, đặc biệt là chặt
phá các cây này tức là phá nhà ở của chủ nước, sẽ làm chủ nước tức giận, trừng
phạt bằng cách bỏ đi, gây hạn hán cho nguồn nước của cả bản. Người trực tiếp chặt
phá sẽ bị ma bắt mất hồn, ốm chết, nhẹ thì cũng mắc một số loại bệnh.
Tại Muờng Tấc
(Phù Yên, Sơn La), khu rừng đầu nguồn linh thiêng nhất là Khau Li. Truớc năm
1952, khu rừng nằm duới sự quản lý của Phìa muờng. Luật tục hạn
chế cả nguời dân trong vùng lẫn nguời từ bên ngoài xâm phạm khu rừng này. Hình
phạt bằng vật chất, sức ép xã hội và sự sợ hãi các lực luợng siêu nhiên gắn với
khu rừng, thực tế, đã hạn chế nguời dân vào khu rừng trên. Cho đến thời điểm hiện
tại, nguời dân vẫn truyền nhau nhiều câu chuyện thần bí liên quan đến khu rừng.
Một trong những câu chuyện phổ biến mà nguời dân ở
đây vẫn hay nhắc đến là về hồ thiêng có tên "Nong xam táng" (Hồ ba ngả)
trong khu rừng, đuợc tin là nơi ở của nhiều loại thần linh khác nhau. Những con
suối lớn nhất chảy qua vùng muờng Tấc tuơng truyền xuất phát từ hồ này (Hoàng Cầm,
2007: 6).
(2) Rừng cửa hồn hay còn gọi là
đông xửa, đông
tu xửa
(rừng
áo che đất muờng) hoặc đông
căm
(rừng thiêng, rừng cấm), là "khu rừng nguyên sinh chứa đựng ý niệm hồn
thiêng của bản hoặc muờng, nơi che chắn cho cuộc sống tâm linh đuợc yên lành ở
nơi quê huơng của mình" (Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, 1995: 92-93). Mỗi khu rừng
đông xửa có một chảu xửa (chủ áo) cai
quản, bảo vệ. Chảu xửa có thể là linh
hồn của người có công khai phá đầu tiên. Nghiên cứu của
Hoàng Cầm (2004: 360) cung cấp thông tin cho biết,
chảu xửa của tất cả các đông xửa của người Thái Mai Châu là
Ải Tông Đạc (còn gọi là Ải Lậc Cậc), một nhân vật được xem là có sức mạnh phi
thường đã khai phá tất cả các thung lũng lớn ở Tây Bắc như Mường Thanh, Mường
Lò, Mường Tấc, Mường Than. Người Thái ở Mai Châu kể rằng, Ải Tông
Đạc chết tại đông xửa của bản Chiềng Châu, các mảnh áo của ông bay sang đông
xửa của những bản xung quanh và vì vậy ông trở thành vị thần coi sóc linh hồn
cho cả cộng đồng mường. Trước đây, dân làng phải cúng Ải Tông Đạc một năm một lần
tại các đông xửa trong dịp đầu năm mới để cầu xin sức khỏe cho cộng đồng
làng bản. Trong ngày lễ, sau khi tế lễ xong, người ta bắn súng để phát lệnh
"kiêng bản" (cắm bản), "kiêng
mường" (cắm mường), thường kiêng bản là một ngày, kiêng mường
là ba ngày. Trong thời gian kiêng, mọi người trong bản, trong mường không được
động đất (giã gạo, cày, cuốc đất), không được động rừng (chặt cây, đốn gỗ, kiếm
củi, vào rừng săn bắn, đặt bẫy), không được động nước (quăng chài, lưới, bắt cá
ở sông, suối)... Ai trái lệnh kiêng cấm sẽ bị bắt vạ làm mâm cơm tạ lỗi với dân bản.
Đông xửa hay đông căm ở nhiều nơi trên
đất người Thái sinh sống thường là những khu rừng um tùm, rậm rạp, lạnh lẽo với
nhiều giống cây
đa dạng khác nhau, thậm chí trước đây còn có nhiều thú dữ chuyên ăn thịt người
và gia súc. Quan niệm dân gian cho rằng những cây cổ thụ với hình
thù quái dị trong rừng này là "những bộ phận còn lại của người hay con thú
bị hổ báo ăn thịt biến thành" (Cà Chung, Phạm
Văn Tuân, 2020: 208). Không ai dám khai thác gỗ ở khu vực này vì sợ linh hồn của
người hay thú chết sẽ bắt hồn của họ thay thế. Tại khu rừng thiêng, rừng cấm của
bản Púng Nghịu, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên có một cây mày noọng to lớn, được chọn
làm nơi thực hiện các nghi lễ xên
bản,
xên mường của cộng đồng. Cây ở
sâu trong rừng, cao khoảng 40m, tán lá xum xuê, um tùm, gốc lớn vài người ôm
không xuể. Điều đặc biệt là trên các cành, nhánh cây có một số lượng lớn các tổ
ong khổng lồ đang bám trĩu. Theo lời người già trong bản, số lượng các tổ ong không thê
đếm chính xác, vì không ai dám trèo lên cây để chọc phá các tổ
ong, còn nếu đứng từ dưới đất ngước lên thì sẽ bị hoa mắt chóng mặt, không thể đếm tiếp được.
Ta-leo
được cắm xung
quanh khu vực gốc cây, biểu thị cây thiêng, cây thần không ai được phép xâm phạm.
Trong lễ xên bản đầu năm mới, dân làng dâng lễ vật lên cây thần
gồm hai con gà, một con vịt và một con lợn khoảng 40-60kg.
(3) Rừng ma (pá heo) là khu rừng
nghĩa địa, nơi chôn cất tổ tiên, nơi tổ tiên của nhiều dòng họ yên nghỉ, nơi một
phần linh hồn của họ ngự ở đó. Người Thái cho rằng, mồ mả của ông bà tổ tiên được giữ
gìn cẩn thận thì hồn ông bà tổ tiên mới không về quở trách con cháu, cuộc sống
của con cháu mới được ổn định. Ngoài ra, rừng tha ma còn được coi là nơi ẩn
náu, trú ngụ của một số loại ma. Vi phạm đến khu rừng ma không chỉ làm xáo trộn
cuộc sống của ông bà tổ tiên mà còn quấy quả đến các loài ma đó, có thể bị các loài ma
này làm cho bị điên hoặc bắt mất hồn. Bởi vậy, chẳng ai dám chặt phá rừng ma,
khiến cho những khu rừng này trở thành những khu rừng già nguyên sinh (đông nga pá ngao) với thảm
thực, động vật phong phú.
Tại bản Tà Vài
(xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) cũng có một khu rừng ma um tùm, chằng
chịt cây cối. Tất cả người chết ở Tà Vài đều được đem vào rừng này hỏa thiêu rồi
chôn luôn bên cạnh một gốc cây nào đó. Người nhà sẽ cắm trên mộ là một cây sào
chống, treo lên một con ngựa bằng gỗ có cánh, được trang trí bằng đủ màu sắc
đen, trắng, đỏ, vàng... cùng một chiếc ô dùng đê che mưa, che nắng. Người chết
đưa vào rừng được xem như "thân xác về với rừng" còn “linh hồn thì về
rừng ngủ", và những thứ treo trên mộ được xem "phương tiện" để "linh hồn
có thể bay về bản thăm người thân của mình". Người
sống thì không được phép qua lại, thăm nom mộ, bởi "hồn nó đã vào rừng ngủ,
vào thăm nó là đánh thức nó dậy, nó sẽ tức giận và trừng phạt làm cho ốm
đau". Chính vì vậy mà người dân nơi đây rất kiêng vào rừng này, có việc cần
kíp phải thắp hương khấn xin cẩn thận mới bước chân vào, đặc biệt không ai dám
chặt hạ một cây trong rừng dù là nhỏ nhất đem về nhà dùng vì sợ các ma quở
trách.
*
* *
Trùng khớp với
khung phân tích về "bản đồ có sự tham gia" trong cảnh quan lãnh thổ
người Keleum trong công trình Rừng,
Thần linh và sự phát triển theo
chủ nghĩa hiện
đại (2014) của Nicolas Arhem, với cộng đồng Thái ở
Tây Bắc Việt Nam, cảnh quan bản - mường đều được phân chia về mặt cảm xúc thành phần
linh hồn
- nơi
các hoạt động của con người bị điều chỉnh bởi những điều cấm kỵ cụ thể hoặc những hạn
chế có tính chất siêu hình, và phần
sản
xuất - nơi các hoạt động sinh kế, ăn ở của con người
theo truyền thống được các cơ quan chính phủ cho phép và tạm thời cho phép.
Người Thái, giống như các cộng đồng trồng
lúa khác ở Đông
Nam Á, quan niệm môi trường xung quanh họ là nơi sinh sống của nhiều loại linh
hồn. Tất cả các linh hồn được cho là có các đặc điểm giống con người
hay có nhân cách, với đầy đủ khả năng ý chí, ý định và quyền tự quyết. Mối quan
hệ giữa con người và những linh hồn giống
người này được phân chia nhưng có tính liên chủ thể.
Ý
niệm
về sự hiện diện của phi
(thần, ma, hồn) trong mọi vật thể và trong các chiều
không gian đã hình thành nên một phương thức tương tác, ứng xử, cũng là phương
thức người Thái tri nhận, tư duy về thế giới, cả với thế giới tự nhiên và xã hội.
Với tự nhiên, các thực thể như cây cỏ, núi rừng, sông suối,... được con
người xem là không vô tri vô giác, mà là các sinh thể có linh hồn,
có xúc cảm, có đời sống riêng giống như con người. Xung quanh đời sống của người
Thái là nhiều các đời sống khác. Nhận thức này, quyết định cách con người ứng xử,
khiến họ thận trọng trong mọi tưong tác với tự nhiên. Các biểu hiện đa dạng
trong thực tế cho thấy một tâm thế ứng xử với thế giới tự nhiên nhất quán của
người Thái: mọi sự hiện diện trong tự nhiên đều có linh hồn, vậy nên những giao
tiếp, tác động, tương tác của con người với xung quanh đều hướng đến và nưong
theo phần hồn này của vật thể.
Phương thức tri nhận
và ứng xử này trong nghiên cứu nhân học được gọi là "vũ trụ quan của sự tiếp
tục" (cosmoligies of
continuities) hay "vũ trụ quan sinh thái" (eco-cosmologies) (Kaj
Arhem, 1996: 186). Theo đó, con người được coi là một dạng sống cụ thể tham gia vào một
cộng đồng sống rộng lớn hon, được quy định bởi một bộ quy tắc ứng xử duy nhất
và có tính toàn diện. Thay vì tuyên bố quyền lực tối thượng của con người với
các hình hài sống khác và từ đó hợp thức hóa việc con người khai thác tự nhiên,
vũ trụ quan này nhấn mạnh trách nhiệm của con người đối với môi trường và
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tự nhiên và xã hội (Kaj Arhem ,1996: 201). Chính
"hệ quy chiếu nhân tính" (chữ dùng của Ngô Đức Thịnh, 2007: 455) này
quyết định cách người Thái giữ đất, giữ nước, giữ rừng, bảo vệ đời sống của tự
nhiên xung quanh mà không khai thác tận dụng, tận diệt chúng. Có thể nói, tự
nhiên, đời sống và quy luật sinh tồn của tự nhiên trở
thành một thành tố trong xã hội Thái.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Arhem,
Kaj and Guido Sprenger (eds.) (2015), Animism Southeast Asia,
London:
Routledge.
Arhem,
Nicolás (2014), Forests, Spirits High Modernist Development: A Study of
Cosmology and
among
Peoples in the
Uplands of
Laos and Vietnam, Uppsala University.
Cà
Chung, Phạm Văn Tuân (2020), "Tri thức dân gian bảo vệ rừng của người Thái Sơn La", Hội
thảo
khoa học quốc gia quản lý tài
nguyên môi
trường và phát triển bền vững vùng Tây Bắc Việt Nam, Nxb.
Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
Cà
Chung (2023), Tri thức dân gian của người ở Sơn La, Bản thảo do
tác giả cung cấp.
Cam
Hoang (2000), "Ritual and Natural Resource Management: A Case Study of the
Tai in Mai Chau District, Hoa Binh Province, Vietnam", in Tai
Culture: International Review
on Tai Cultural Studies, 4 (2): 48-63.
Hoàng
Cầm (2007), "Lâm tặc": chính sách tài nguyên của nhà nuớc, kinh tế thị
trường, sự tranh giành mưu sinh và ý
nghĩa tự thiên ở một thung lũng vùng Tây Bắc Việt Nam, Hội thảo Quốc tế Hiện
đại và động thái của truyền thống ở
Việt Nam: Những
cách
tiếp cận Nhân học, Bình Châu, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Cam
Hoang (2009), Forest Thieves? Politics of Forest Resources
in a Northwestern Frontier Valley
of Vietnam, Doctor of Philosophy, University of
Washington.
Hoàng
Cầm (2019), "Vũ trụ quan Thái Mường Tấc qua mo đám
ma", Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2 (182), tr. 16-21.
Condominas,
Georges (1977), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á (Bản dịch của
Ngọc Hà, Thanh Hằng), Nxb. Văn hóa, Hà Nội.
Dam
Bo (Jacques Dournes) (2003), Miền đất huyền
ảo, Nguyên Ngọc dịch, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
Descola,
Philippe (2005), Bên kia tự nhiên và văn hóa (bản dịch của
Phạm Văn Quang, Võ Thị Ánh Ngọc), Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội,
Hà Nội.
Đỗ
Thị Thu Hà (2021), Ma thuật trong đời sống văn hóa của
người Thái tỉnh Sơn La, Luận án Văn hóa học, Học
viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
Hickey,
Gerald Cannon (1982), Free in the Forest: Ethnohistory of the Viet-namese
Central Highlands 1954-1976, New Haven: Yale
University Press.
Nguyễn
Văn Hòa (2013), Lễ cúng tổ tiên và cầu
lành truyền thống của người Thái Đen
vùng Tây Bắc,
Nxb. Thời đại, Hà Nội.
Lansing,
Stephen (1991), Priests and Programmers: Technologies of power in the
engineered landscape of Bali, New Jersey: Princeton University Press.
Lã
Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày,
Nùng, Thái ở Việt Nam,
Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội.
Ngô
Đức Thịnh, Cầm Trọng (2012), Luật tục Thái ở Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân
tộc, Hà Nội.
Ngô
Đức Thịnh (2007), Những mảng màu hóa Tây
Nguyên, Nxb. Trẻ, Hà Nội.
Vũ
Thủy, Dũng Tuấn (2012), "Giấc ngủ dưới tán rừng",
báo Tuổi trẻ online, bài đăng ngày 15/11/2012, ngày
truy cập 15/10/2024.
Cầm
Trọng (1978), Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
Cầm
Trọng (1987), Mấy vấn đề cơ bản về lịch sử kinh
tê xã hội cổ đại người Thái Tây Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội.
Cầm
Trọng, Phan Hữu Dật (1995), Văn hoá Thái Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc,
Hà Nội.
Cầm
Trọng (Chủ biên) (1998), Vãn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa
dân tộc, Hà Nội.
Cầm
Trọng (1999), "Ma thuật chữa bệnh ở xã hội Thái cổ truyền", trong Các công
trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân học Việt Nam (Tập 1), Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 207-216.
Cầm
Trọng (2004), "Phi Một - Một phương pháp chữa bệnh của
người Thái ở Việt Nam", in
trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Đạo Mẫu và các hình
thức shaman trong các tộc người ở
Việt
Nam và châu Á, Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội, tr. 478-485.
Cầm
Trọng (2005), Những hiểu biết vê người Thái Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
Bài
viết đầy đủ có tại: Viện Nghiên cứu Văn hóa, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Văn
hóa Việt Nam trong các chiều kích biến đổi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
2025.