Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Di sản văn hoá và đô thị ở Việt Nam: một số hướng nghiên cứu triển vọng” của ThS. Nguyễn Đăng Đạo

Theo định nghĩa của UNESCO, di sản văn hóa gồm di sản văn
hoá vật thể và phi vật thể, phản ánh những giá trị văn hoá, lịch sử, khoa học
và nghệ thuật được lưu truyền qua các thế hệ. Di sản văn hoá như là một tài sản
kế thừa thuộc về nhân loại, mang đến cho mỗi vùng đất cụ thể những đặc trưng có
thể nhận diện được theo nét riêng biệt của nó và là kho tàng kinh nghiệm của
con người.
Vào đầu thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu châu Âu khi nghiên cứu về di sản văn hoá thường tập trung vào việc bảo
tồn tính xác thực, tầm quan trọng và các giá trị hữu hình và vô hình được gắn
cho các di sản. Với xu hướng toàn cầu hoá vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21,
việc bảo tồn và phát huy di sản được gắn liền với những giá trị phổ quát trong
Công ước Athens 1934 hay Công ước UNESCO 1972 về Bảo vệ di sản
Tự nhiên và Văn hóa thế giới: Các nguyên tắc cơ bản của thực hành bảo tồn toàn
cầu. Tuy vậy, trong bối cảnh các nước châu Á, những tiêu chí và nguyên tắc bảo
tồn được bổ sung trong các công ước về sau như Công ước Nara, Công ước Thượng Hải
nhằm tôn vinh và phát huy những giá trị riêng biệt về thẩm mỹ và văn hoá
(MacKee, 2013). Đặc biệt, di sản văn hoá ở châu Á thường được nhìn nhận và bảo
tồn dựa vào tính liên tục, tính truyền thống, tính tập thể và cộng đồng của các
hoạt động văn hoá bên cạnh những công trình vật thể. Chính phủ và người dân thường
chú trọng đến vai trò của di sản trong việc gắn kết giữa cá nhân, cộng đồng và
liên hệ với tổ tiên và truyền thống của cộng đồng và xã hội (Fong và các cộng sự, 2012).
Chính bởi những di sản văn hoá ở châu Á thường đa dạng,
mang tính đời thường và gắn bó mật thiết với bối cảnh văn hoá của nhóm dân cư ở
khu vực đó mà Taylor (2012) nhận định rằng, bảo tồn di sản ở các
đô thị Bán cầu Nam cần có những cách tiếp cận riêng. Trong lĩnh vực bảo tồn di
sản văn hóa, trong hai thập kỷ qua, ngày càng có nhiều sự quan tâm và chú ý tập
trung vào các khu vực thành thị. Toàn cầu hóa đã tác động đáng kể đến thiết kế
thành phố với hai hệ quả chính. Một mặt, các thành phố ở châu Á, bao gồm Việt
Nam, đang phải đối mặt với sự xuống cấp, thậm chí là phá hủy ngày càng nhanh
các di sản của các địa điểm và không gian đô thị được thiết kế và phát triển dựa
trên điều kiện địa phương, với môi trường xây dựng có nguồn gốc văn hóa bị xói
mòn. Một hệ quả khác là các áp lực đang thương mại hóa bản sắc địa điểm của các
không gian và địa điểm đô thị lịch sử, tách chúng ra khỏi tính liên tục về mặt
địa phương, không gian và thời gian, trong khi vẫn thể hiện chúng như những đồ
tạo tác đích thực được bảo tồn để tiêu thụ văn hóa toàn cầu (Zetter và Watson, 2006).
Bên cạnh đó, Zetter và Watson (2006) còn chỉ ra cách thức các nghiên cứu về thành phố
và đô thị hóa ở thế giới đang phát triển đã đặt ra các câu hỏi về tính bền vững,
chủ yếu về mặt môi trường. Hiện nay, khi nghiên cứu về di sản, các chương trình
nghị sự nhìn chung quan tâm đến các ảnh hưởng của vấn đề như ô nhiễm, rác thải
đô thị, năng lượng, giao thông đến công tác bảo tồn, tái dựng và phát huy các
di sản văn hoá. Tuy nhiên, nghiên cứu về các thành phố ở các nước đang phát triển
còn gợi mở được nhiều vấn đề hơn thế. Chẳng hạn như ở châu Á, cuộc sống trên đường
phố và cảm giác về lịch sử sống động có thể nhìn thấy và cảm nhận rất rõ từ các
giác quan. Từ đó, nhiều nhà nghiên cứu lập luận rằng trước áp lực tăng trưởng
đô thị và sự đồng nhất về hình thức và thiết kế đô thị ở các thành phố châu Á,
nghiên cứu về di sản văn hoá cần phải được giải quyết và khám phá khả năng phục
hồi, cũng như khả năng thích ứng của truyền thống đô thị địa phương, công nghệ,
bản sắc địa điểm và các nguyên tắc văn hóa trong thiết kế và phát triển thành
phố.
Quan trọng hơn, việc mở rộng đô thị cũng ảnh hưởng đến di
sản văn hóa theo nhiều cách, chẳng hạn như: (1) phá hủy hoặc thay đổi cảnh quan
lịch sử riêng lẻ của các di tích để phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại; (2) thu
hồi đất nông nghiệp, không gian xanh hỗ trợ lối sống truyền thống; và (3) thay
đổi nhân khẩu học hoặc nền kinh tế trong khu vực đô thị. Việc mở rộng đô thị
gây áp lực lên các di sản văn hóa và mang đến mối đe dọa về những thiệt hại và
mất mát không thể khắc phục được (Phạm và cộng sự, 2021). Chính vì vậy, bảo tồn
và phát huy di sản văn hoá ở đô thị là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và
mang tính liên ngành. Ví dụ, Quần thể di tích Cố đô Huế có lịch sử bảo tồn lâu
đời trước khi được công nhận là Di sản Thế giới được UNESCO đầu tiên tại Việt
Nam vào năm 1993 (VOV5, 2018). Là một trong 5 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung, Thừa Thiên - Huế đã có đủ điều kiện để sản xuất hàng hóa, mở rộng
giao lưu kinh tế với các tỉnh trong nước và thế giới, đặc biệt là có tiềm năng
lớn về du lịch. Vì vậy, việc Cố đô Huế được công nhận là di sản văn hoá đã thúc
đẩy quá trình đô thị hoá và phát triển du lịch, nhưng đồng thời cũng tạo ra những
vấn đề mới liên quan đến bảo vệ và phát huy di sản văn hoá này. Điều này đã dẫn
đến những nghiên cứu liên ngành quan tâm đến những vấn đề liên quan chặt chẽ đến
di sản văn như du lịch (Nguyen, 2002; Cira và cộng sự, 2012), tăng trưởng du lịch (Nguyen và Cheung, 2014), ô nhiễm môi trường (Matsui và cộng sự, 2015), du lịch bền vững và
chính sách môi trường liên quan
(Duc, 2009) và quản
lý môi trường (Trần và Shaw, 2007). Qua ví dụ trên, có thể thấy, di sản
văn hoá và đô thị hiện nay có liên hệ chặt chẽ với nhau, đòi hỏi các nhà nghiên
cứu và hoạch định chính sách phải quan tâm nhiều hơn đến những tác động hai chiều,
lẫn nhau từ quá trình bảo tồn, phát huy di sản văn hoá và quá trình đô thị hoá,
hiện đại hoá.
Di sản văn hoá ở đô thị và
phát triển bền vững
Phát triển bền vững và đô thị thông minh được coi là trọng
tâm phát triển đô thị của nhiều quốc gia hiện nay, trong đó có Việt Nam (Lê
Hào, 2023). Theo Ủy ban Châu Âu, thành phố thông minh là nơi các mạng lưới hạ tầng đô thị
và dịch vụ truyền thống được nâng cao hiệu quả hơn bằng cách sử dụng các giải
pháp kỹ thuật số vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp. Trong khi đó, phát
triển bền vững được Liên hợp quốc định nghĩa là sự phát triển nhằm đáp ứng nhu
cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ
tương lai. Nhiều ý kiến cho rằng bảo tồn di sản và phát triển sẽ phải đánh đổi
vì hai việc này mâu thuẫn, đối kháng hoặc loại trừ lẫn nhau.
Tuy vậy, hầu hết trong những diễn ngôn về phát triển bền
vững, bảo tồn và phát triển luôn được khuyến khích thực hiện song song và hỗ trợ
nhau. Nguyễn Hạnh Nguyên (2018) lập luận rằng, di sản là một phần quan trọng
cho kinh tế đô thị nói riêng và phát triển thành phố bền vững nói chung. Đào
Vĩnh Hợp và Võ Thị Ánh Tuyết (2021) trong nghiên cứu của mình cũng lập luận rằng,
bảo tồn và phát huy di sản kiến trúc ở Hội An cần gắn với các phương pháp phát
triển du lịch mang tính bền vững dựa trên Luật Di sản và Luật Du lịch để đáp ứng
các nhu cầu kinh tế, xã hội và môi trường, cũng như không làm tổn hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai. Nguyễn Thị Hậu (2021) với bài
nghiên cứu Di sản
văn hoá đô thị Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh góp phần phát triển bền vững đề cập đến nội
hàm về di sản đô thị bao gồm các công trình kiến trúc văn hoá, cảnh quan tự
nhiên, và quy hoạch đô thị mang tính lịch sử, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật, và
văn hoá của các cộng đồng dân cư đô thị. Thêm vào đó, di sản cần phải đáp ứng
được ba yếu tố, bao gồm truyền thống, khoa học, và kinh tế. Những yếu tố này
mang tính chủ quan, bởi vậy việc một công trình có được xem là di sản văn hoá
hay không phụ thuộc vào sự nhìn nhận và đánh giá của xã hội, cộng đồng và các cá
nhân ở mỗi thời kỳ. Bởi vậy, di sản văn hoá hay ký ức tập thể có vai trò rất
quan trọng ở đô thị, bởi chúng xác định khung cảnh sống, tái hiện văn hoá, xã hội
qua các thời kỳ và được sử dụng như cơ sở phát triển các cấp độ văn hoá khác
nhau. Từ đây, tác giả đã đề xuất cách tiếp cận di sản văn hoá đô thị dựa trên
cách tiếp cận liên ngành, bao gồm tiếp cận từ không gian vật thể, từ chính trị
học, kinh tế học, và xã hội học. Tiếp cận về mặt không gian chú trọng đến các
không gian công cộng, trong khi các cách tiếp cận còn lại nhấn mạnh đến khía cạnh
quan hệ giữa nhà nước, xã hội, công dân, cũng như quyền sở hữu và tính chất cá
nhân hoặc công cộng của di sản văn hoá ở đô thị.
Phát triển bền vững, vì vậy, nhấn mạnh đến việc xem xét,
đánh giá và điều chỉnh những nhu cầu sử dụng di sản văn hoá đô thị hiện tại, đồng
thời tránh những nguy cơ về việc không thể đáp ứng được nhu cầu của thế hệ
tương lai. Trong bối cảnh các thành phố Việt Nam, ví dụ như Thành phố Hồ Chí
Minh, trong tài liệu “Bộ tiêu chí Thành phố Hồ Chí Minh xã hội chủ nghĩa văn
minh hiện đại” đầu những
năm 2010, chỉ có những tiêu chí về môi trường văn hoá xã hội, với trọng tâm là
bảo tồn các di tích di sản lịch sử, văn hoá đặc thù, thực hiện theo Luật Di sản
văn hoá trong quá trình trùng tu, cải tạo, bảo vệ và phát huy giá trị các di sản
văn hoá của thành phố, cũng như tổ chức các sinh hoạt văn hoá hiện đại, lễ hội
truyền thống và tín ngưỡng, và xây dựng bảo tàng để phát triển văn hoá. Hướng
nghiên cứu này cũng nhấn mạnh đến việc sử dụng “vốn văn hoá” một cách hợp lý và bền vững để phục vụ cho
phát triển đô thị bền vững.
Bên cạnh đó, khi điểm qua các nghiên cứu trước
đây, có thể thấy những nghiên cứu về di sản văn hoá đô thị và phát triển bền vững
thường quan tâm đến du lịch, bởi di sản văn hoá đóng vai trò quan trọng cho việc
phát triển du lịch và tạo ra những điểm đặc sắc riêng cho các thành phố. Ngoài
di sản văn hoá được đặt trong thành phố, chẳng hạn như Hoàng thành Thăng Long
được đặt ở Hà Nội, di sản văn hoá đô thị - bao gồm địa điểm, vị trí, khu phố,
các công trình kiến trúc và lối sống, tập quán ở xã hội đô thị, cũng đóng vai
trò không nhỏ trong việc thúc đẩy du lịch. Những nghiên cứu về bảo tồn di sản
văn hoá theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam đã, đang và trong tương lai sẽ
tập trung vào những dàn xếp, thương thảo của nhà nước, cộng đồng dân cư, và các
bên liên quan, bao gồm, chính thức, là các chiến lược, chính sách về bảo tồn di
sản hoặc phát triển đô thị, bền vững, và không chính thức như các thương thảo,
phản kháng hay đồng thuận hằng ngày giữa các chủ thể.
Ngược lại, với hướng nghiên cứu về di sản văn hoá và phát
triển bền vững đang ngày càng phổ biến, nghiên cứu về di sản văn hoá và phát
triển đô thị thông minh chưa thực sự phát triển ở Việt Nam, mặc dù đang là một
hướng nghiên cứu ngày càng phổ biến trên thế giới. Chẳng hạn như trong nghiên cứu
về các thành phố thông minh ở trên thế giới, Borda và Bowen (2017) đã phân tích việc sử dụng các thiết bị và công nghệ
thông minh vào trong việc bảo vệ di sản văn hoá. Theo các nhà nghiên cứu của
sáng kiến DATABENC do EU tài trợ, khái niệm “di sản văn hóa thông minh” là về việc kết nối kỹ thuật số các tổ chức,
du khách và đối tượng trong đối thoại. Di sản thông minh tập trung vào việc áp
dụng nhiều cách tiếp cận có sự tham gia và hợp tác hơn, làm cho dữ liệu văn hóa
có sẵn và dễ tiếp cận, từ đó tăng cơ hội diễn giải, quản lý kỹ thuật số và đổi
mới. Điều này mang lại khả năng tiếp cận tiềm năng chưa từng có đối với các hiện
vật và trải nghiệm văn hóa từ xa, trong đó người tiêu dùng văn hóa không còn là
người tiếp nhận thụ động. Tuy vậy, ở Việt Nam, việc áp dụng các công nghệ như Internet, điện toán đám mây, mạng cảm biến
không dây (WSN), băng thông rộng di động, không dây tầm ngắn để
ứng dụng các công nghệ trực quan hóa cho bảo tồn, trưng bày và phát huy di sản
văn hoá ở đô thị vẫn còn khá hạn chế. Dù vậy, hiện nay, Việt Nam đã bắt đầu ứng
dụng công nghệ trong bảo tồn và phát huy di sản văn hoá để tái hiện di tích lịch
sử và các danh lam thắng cảnh, cũng như phát huy giá trị di sản văn hoá ở các
đô thị, chẳng hạn như tour du lịch Mộc Châu qua công nghệ thực tế ảo
(VR). Hiện nay, VR đã bắt đầu được sử dụng rộng rãi hơn ở các thành phố lớn sau
khi Viện Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã nghiên
cứu thành công việc sử dụng công nghệ 3D để phục dựng di tích Hoàng thành Thăng
Long ở Hà Nội vào năm 2021, và sau đó là các dự án ở Hoàng thành Huế, đình Tiền
Lệ, hay chùa Diên Hựu (Báo Nhân Dân, 2022). Công nghệ thực tế ảo dự kiến sẽ được
áp dụng nhiều hơn trong tương lai, và điều này đã mở ra một hướng nghiên cứu về
mối quan hệ giữa di sản văn hoá đô thị và sự phát triển của công nghệ trong
chuyển đổi số hướng tới thành phố thông minh tại các đô thị lớn ở Việt Nam.
Giao thoa cũ - mới, truyền thống - hiện đại trong giữ gìn và phát huy
di sản văn hoá
Di sản văn hóa đô thị có tầm quan trọng đáng kể, là môi
trường sống cho sự tồn tại văn hóa và bản sắc của các truyền thống sống cụ thể.
Truyền thống được xem là có thể gây ra sự trì trệ, đặc quyền; hiện đại hóa có
thể dẫn đến sự xa lánh, xa lạ, loại trừ và đánh mất bản sắc cũng như ý thức cộng
đồng. Vì tình thế tiến thoái lưỡng nan này, việc duy trì các giá trị văn hóa đô
thị trong thời kỳ hiện đại hóa không phải là một việc dễ dàng. Vũ Thị Hồng Hạnh
(2006) trong nghiên cứu về việc bảo tồn đường cao tốc ven kênh ở Thành phố Hồ
Chí Minh như một di sản văn hoá đô thị nhấn mạnh rằng, sự phát triển ở Đông Nam
Á là vô cùng phức tạp, và mỗi quốc gia đều có những vấn đề, có những thất bại
và thành công riêng trong việc bảo tồn văn hóa đô thị. Kể từ vài thập kỷ qua,
Hiến chương Venice của ICOMOS cũng nêu rõ điều đó (1964), và Hiến
chương Burra của Úc ICOMOS (1999) đã được chấp nhận và áp
dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển ở châu Á. Các nguyên tắc can thiệp
chung được thiết lập trong các Hiến chương này đã được sửa đổi để thích ứng với
bối cảnh nhất định của một số quốc gia. Tuy nhiên, cho đến nay, các Điều lệ và
sửa đổi này vẫn chưa trở thành quy định chính thức. Có thể hiểu được, ở các nước
đang phát triển nơi hầu hết người dân coi phát triển kinh tế và cải thiện điều
kiện sống là ưu tiên hàng đầu. Kết quả là, sự thiếu hụt về tài chính, lao động,
kinh nghiệm lý thuyết và thực hành đã dẫn đến nghề bảo tồn còn hạn chế. Vì vậy,
việc bảo tồn văn hóa ở các nước Đông Nam Á phụ thuộc một cách thụ động vào các
tổ chức hỗ trợ bên ngoài. Tuy nhiên, không có cách thực hành tốt nhất có thể áp
dụng phổ biến để thực hiện chiến lược du lịch - bảo tồn di sản này, vì các
thành phố bao gồm những con người khác nhau về dân tộc, văn hóa, điều kiện sống,
và cả hy vọng. Mỗi thành phố nhận ra và xác định các cơ hội và vấn đề của mình
theo những cách khác nhau, có thể khác nhau đáng kể tùy theo vị trí, mức độ
phát triển kinh tế, xã hội và thể chế cũng như nhiều yếu tố khác.
Đồng thời, những thay đổi nhanh chóng hiện diện ở các
thành phố châu Á chắc chắn đã và đang ảnh hưởng lớn đến sự đa dạng của đô thị
và cảnh quan đường phố - vốn là nơi phản ánh các mô hình xã hội truyền thống ở
các thành phố châu Á. Bảo tồn đô thị không chỉ là về các khía cạnh kiến trúc vật
lý của các bộ phận của thành phố mà còn bao gồm việc đánh giá cao các khía cạnh
xã hội của đời sống đô thị và tiềm năng phong phú của nó. Belinda Yuen (2005) trong nghiên cứu của mình đã xem xét bản
sắc địa điểm, di sản và bảo tồn ở Singapore. Từ giữa những năm 1980, chính phủ
nước này đã bắt đầu từ tiếp cận phá bỏ và xây dựng lại quy hoạch thành phố nhằm
củng cố và tích hợp di sản quá khứ với sự phát triển hiện tại, với bước ngoặt lớn
là quy hoạch năm 1989 hành động sửa đổi. Điều này đã dẫn đến sự ra đời của cơ
quan bảo tồn, chỉ định các khu bảo tồn với các yêu cầu và hướng dẫn bảo tồn
liên quan. Các khu nhà phố lịch sử được cứu khỏi bị phá hủy và các hướng dẫn phục
hồi cụ thể kèm theo thông tin dành cho chủ sở hữu để giúp bảo vệ tính xác thực
là những ví dụ điển hình của Singapore, chứng minh rằng sự thay đổi và thích ứng
theo hướng cải thiện đặc tính môi trường sẽ cho thấy quá khứ có thể phục vụ những
nhu cầu của hiện tại và tương lai như thế nào.
Theo Nguyễn Mạnh Trí (2023), trong bối cảnh Việt Nam, các
dự án như khu phố đi bộ Tạ Hiện, Trường Tiểu học Hồng Hà - Hội quán Phúc Kiến tại
40 Lãn Ông và Trung tâm Văn hóa nghệ thuật - Hội quán Quảng Đông tại 22 Hàng Buồm
đều được xây dựng lại và cải tạo để phù hợp những nhu cầu về du lịch, sinh hoạt
và quy hoạch đô thị ngày nay, nhưng vẫn giữ được những giá trị truyền thống,
văn hoá và lịch sử. Chẳng hạn như dự án cải tạo chỉnh trang phố Tạ Hiện trong
khu phố cổ vào năm 2011 là một ví dụ điển hình, khi con phố này được tinh chỉnh
về kích thước, vị trí, và màu sắc để phục vụ cho nhu cầu sinh sống và sinh kế của
40 hộ dân nơi đây, nhưng không phá đi những gì vốn có. Thêm vào đó, trong việc
bảo tồn và phát huy di sản ở đô thị, nơi mà mật độ dân số luôn rất dày, thì việc
tham vấn và gắn kết người dân vào quá trình cải tạo và bảo tồn, đồng thời trao
quyền cho người dân được đồng sở hữu không gian di sản, tạo ra những nội dung
và hoạt động cho di sản văn hoá, được Nguyễn Mạnh Trí (2023) cho rằng là yếu tố
then chốt để giữ gìn và phát huy di sản văn hoá đô thị. Nguyễn Thị Hậu (2021)
khi nghiên cứu về di sản văn hoá đô thị Sài Gòn cũng lập luận rằng, chủ thể của
văn hoá và di sản văn hoá ở các thành phố và của thành phố không nhất thiết là
con người nói chung, mà hơn thế nữa, là con người với vai trò là cầu nối giữa
quá khứ, hiện tại và tương lai. Như vậy, con người với những ký ức về lịch sử,
với hiểu biết về di sản, và hành động bảo tồn và phát huy những "ký ức tập
thể" ở thành thị là có cơ để phát triển các cấp độ văn hoá.
Ngoài những di sản văn hoá hữu hình, có những nét văn hoá
ít hữu hình hơn cũng đang dần được quan tâm khi nghiên cứu về văn hoá và di sản văn hoá đô thị. Chẳng hạn,
Nguyễn Thị Phương Châm (2019) quan tâm đến văn hoá vỉa hè ở Hà Nội, nơi diễn ra
rất nhiều hoạt động và là không gian sinh kế, xã hội, nghệ thuật và ký ức, đóng
góp những giá trị quan trọng vào di sản văn hoá đô thị ở Việt Nam. Điều này được
thể hiện rất rõ trong nghiên cứu về những cửa hàng vỉa hè ở Amsterdam của Zukin (2012). Tác giả này lập luận rằng, trong hầu
hết thế kỷ 20, việc bảo tồn di sản văn hóa nhằm khôi phục và duy trì những
“viên đá” hữu hình của một môi trường xây dựng có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, đến
những năm 1980, sứ mệnh đã mở rộng sang một mục tiêu khác: duy trì "tinh
thần” vô hình của các nhóm xã hội nhỏ, có phong tục và kỹ năng, bị xã hội hiện
đại gạt ra ngoài lề, và các không gian đô thị bản địa không thể đưa vào bảo
tàng - các không gian như đường phố, góc phố và công viên công cộng là những cơ
sở quan trọng cho các tương tác xã hội đang diễn ra qua đó di sản văn hóa được
tạo ra. Cả địa điểm và sự tương tác cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các địa
điểm và sự tương tác đều là nguồn gốc của bản sắc và sự thuộc về, những phẩm chất
tình cảm mà ý tưởng về di sản văn hóa phi vật thể thể hiện, trau chuốt và duy
trì.
Di sản được xây dựng và cảnh
quan văn hóa - lịch sử đô thị
Ở bất kì thành phố nào, ngoài các cảnh quan văn hoá - lịch
sử tự nhiên, những di sản được xây dựng từ quá khứ bởi con người đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên bản sắc, lịch sử và dấu ấn của
không chỉ thành phố mà còn những nhóm dân cư sinh sống tại các đô thị. Một
trong những nhu cầu sâu sắc nhất của chúng ta là cảm giác về bản sắc và sự thuộc
về. Mẫu số chung ở đây là sự gắn bó của con người với cảnh quan và cách chúng
ta tìm thấy bản sắc trong cảnh quan và địa điểm. Chúng có thể gợi lên những ý
tưởng đa nghĩa, hành động xã hội và các chế độ giá trị mang tính ý thức hệ
(Claval, 2007).
Cảnh quan văn hóa, lịch sử phát triển theo thời gian gắn
liền với các phương thức sinh hoạt hoặc sinh kế của người dân và các thế lực tự
nhiên của một khu vực. Chúng bao gồm các lớp theo thời gian với vai trò ghi
chép lịch sử phong phú nhất mà chúng ta sở hữu. Về bản chất, cảnh quan văn hóa
là mối quan hệ qua lại giữa con người và địa điểm. Chúng ta tạo ra cảnh quan,
bao gồm cả bối cảnh đô thị, là kết quả của hệ tư tưởng qua các thời kỳ và gán
các giá trị cho chúng vì cả lý do hữu hình và vô hình. Do đó, cảnh quan đô thị
cũng được coi là một công trình văn hóa (Tweed và Sutherland, 2007).
UNESCO đã triệu tập một hội nghị tại Vienna vào tháng 5 năm 2005 sau mối quan ngại của úy ban Di sản
Thế giới nhằm thảo luận về tác động của sự phát triển hiện đại đối với các khu
vực lịch sử và khả năng tương thích với việc bảo vệ các giá trị di sản của
chúng ở các đô thị trên toàn thế giới. Trọng tâm đặc biệt được dành cho các
thành phố được ghi trong Danh sách Di sản Thế giới và ủy ban đã bày tỏ lo ngại về tác động ngày càng
tăng của các công trình xây dựng hiện đại hoặc cao tầng ở các thành phố lịch sử.
Hội nghị này đề xuất khái niệm Cảnh quan đô thị lịch sử (HUL) như một công cụ để diễn giải lại các giá trị của
di sản đô thị và chỉ ra sự cần thiết phải xác định các phương pháp tiếp cận mới
và công cụ mới để bảo tồn đô thị. Thêm vào đó, di sản được coi là thành phần
chính của chất lượng cuộc sống, nhưng hai phương pháp chính để xác định và bảo
vệ di sản được xây dựng - lập danh sách các di tích, tòa nhà riêng lẻ và chỉ định
các khu bảo tồn - không thể giải quyết được các đặc điểm ít hữu hình hơn của cảnh
quan thành phố, chẳng hạn như hoa văn đường phố. Chính những đặc điểm này thường
mang lại cho thành phố nét độc đáo và mang lại cảm giác thân thuộc nằm ở cốt
lõi của bản sắc văn hóa, bên cạnh những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể.
Tuy rằng di sản xây dựng là một phần quan trọng của di sản
văn hóa của các thị trấn và thành phố, các định nghĩa hiện nay về di sản được
xây dựng còn hạn hẹp và dựa trên các quan niệm thông thường về giá trị kiến
trúc và lịch sử. Ở nhiều quốc gia, những giá trị này được quy định trong luật xác định thế
nào là “di sản
được xây dựng”. Tuy
nhiên, như Hassler và cộng sự lập luận, việc bảo vệ các tòa nhà và di tích
riêng lẻ hiếm khi là một vấn đề, bởi vì chúng được giải quyết trực tiếp bởi luật
pháp hiện hành (Hassler và cộng sự, 2002). Tương tự, toàn bộ quận hoặc thị trấn
có thể được chỉ định là khu vực bảo tồn để ngăn chặn sự việc đập phá và tái xây
dựng. Do đó, vấn đề cấp bách nhất là làm thế nào để giải quyết các khu vực
trong các thị trấn và thành phố không được coi là xứng đáng là khu bảo tồn
nhưng lại là một phần thiết yếu của đặc điểm đô thị. Ở Việt Nam, chẳng hạn phố Tạ Hiện có thể được
coi như một di sản xây dựng điển hình cần được bảo vệ bởi những kiến trúc ở đây
được xây dựng theo phong cách những năm đầu thế kỉ XX. Ngoài ra, những dự án
khác như Trường tiểu học Hồng Hà - Hội quán Phúc Kiến tại 40 Lãn Ông cũng chứng
minh rằng ở đô thị, những công trình được xây dựng đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo nên nét đặc sắc và giữ gìn những dấu ấn lịch sử và văn hoá của
nhóm dân cư đô thị (Báo Kinh tế và Đô thị, 2022). Đây là một hướng tiếp cận tiềm năng mà những nghiên cứu về di sản
văn hoá đô thị ở Việt Nam có thể khai thác một cách đa chiều.
*
* *
Ở các thành phố Bán cầu Nam với tốc độ đô thị hoá nhanh,
việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá là một nhiệm vụ cũng như một thách thức
vô cùng lớn, không chỉ cho chính phủ, các tổ chức mà còn là cho cả người dân khi phải
cân bằng những nhu cầu của xã hội hiện tại và giữ gìn di sản của thời xưa. Việc
nghiên cứu về di sản văn hoá và công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hoá ở các
thành phố châu Á, đặc biệt là các thành phố Việt Nam, đang ngày càng được chú ý
nhiều hơn bởi tính phức tạp, đa chiều và độc đáo của nó. Bài viết này tổng hợp các hướng nghiên cứu đang được
quan tâm trên thế giới và gợi ý cách áp dụng chúng vào việc nghiên cứu các di sản
văn hoá ở các thành phố tại Việt Nam. Thứ nhất, nghiên cứu di sản văn hoá gắn
liền với phát triển bền vững là một hướng nghiên cứu nổi bật hiện nay, được các
học giả Việt Nam và quốc tế quan tâm và thực hiện nhiều nghiên cứu tại các
thành phố khác nhau. Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu tập trung nhiều vào phát
triển du lịch bền vững, trong khi đó phát
triển bền vững còn bao hàm các vấn đề như biến đổi môi trường, năng lượng sạch,
phát triển cơ sở hạ tầng, đều đang rất nổi cộm và liên quan trực tiếp đến các
di sản văn hoá đô thị hiện nay. Ngoài ra, trong bối cảnh đô thị thông minh đang
trở thành trọng tâm của nhiều quốc gia, trong đó có nước ta, việc ứng dụng công
nghệ vào nghiên cứu và phát huy di sản văn hoá ở Việt Nam và ảnh hưởng đến xã hội,
văn hoá, và lịch sử là một hướng nghiên cứu sẽ phát triển trong tương lai. Tiếp
theo, nghiên cứu sự giao thoa giữa cũ - mới, truyền thống và hiện đại trong giữ
gìn và phát huy di sản văn hoá cũng là một hướng tiếp cận phổ biến trên thế giới
và vô cùng tiềm năng cho Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh đô thị hoá nhanh
chóng ở các thành phố lớn dẫn đến sự xói mòn, hư hỏng hay phá hủy các di sản
văn hoá, đặc biệt là các di sản văn hoá đô thị có sự tham gia của sinh hoạt đời
thường như phố Tạ Hiện ở Hà Nội. Cuối cùng, nghiên cứu này đề cập đến di sản được
xây dựng và cảnh quan văn hoá - lịch sử đô thị, một khía cạnh vô cùng quan trọng
đang ngày được quan tâm, đặc biệt là khi rất nhiều cảnh quan đô thị đang chưa
được sự quan tâm cần thiết như một di sản văn hoá quan trọng của thành phố. Tóm
lại, thông qua việc tổng hợp và phát tích những hướng nghiên cứu trên, bài viết
gợi mở, tiếp nối và mở ra những cách tiếp cận đa ngành, liên ngành cho việc
nghiên cứu về bảo tồn và phát huy di sản văn hoá trong bối cảnh đô thị Việt
Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Báo Kinh tế và Đô Thị (2022), "Phố Tạ Hiện
- "Viên ngọc quý" giữa lòng phố cổ Hà Nội", https://kinhtedothi.vn/pho-ta-hien-vien-ngoc-quy-giua-long-pho-co-ha-noi.html
Báo Nhân Dân (2022), "Ứng dụng công nghệ
trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản", https://bvhttdl.gov.vn/ung-dung-cong-nghe- trong-bao-ton-phat-huy-gia-tri-di-san-2022022n42848488.htm.
Borda, Ann, & Bowen, Jonathan
(2017), "Smart cities and cultural heritage-A review of developments and
future opportunities", EVA. BCS.
Nguyễn Thị Phương Châm (2019), "Văn hóa
vỉa hè ở Hà Nội hiện nay", Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 12.
Cira Dean, Arish Dastur, Kilroy Austin, et al (2012),
Vietnam Urbanization Review, Doi: https://doi.org/10.13140/2.1.5100.6249
Claval, Paul (2007). "Changing conceptions of heritage and
landscape", Heritage, Memory and the Politics of Identity: new perspectives on the
cultural landscape,
Ashgate Publishing, pp. 85-93.
Hoai Giang Dang & Ky Nam Nguyen (2023), Challenges in
conserving ethnic culture in urban spaces: Case of Ako Dhong village (Vietnam),
Cogent Social
Sciences, 9 (1), 2233754.
European Commission (n.d.), "What are smart
cities", https://commission.europa.eu/eu-regional-and-urban-development/
topics/cities-and-urban-development/city-initiatives/smart- cities_en.
Fong, K. L., Winter, T., & Rii, H. U.
(2012), "'Same same but different?' A roundtable discussion on the
philosophies, methodologies, and practicalities of conserving cultural heritage
in Asia", In P. T. Daly & T. Winter (Eds.), Routledge handbook of
heritage in Asia. Routledge.
Vu Thi Hong Hanh (2006), "Canal-side
highway in Ho Chi Minh City (HCMC), Vietnam-Issues of urban cultural
conservation and tourism development", GeoJournal, 66 (3), pp. 165-186.
Thi Hong Hai Nguyen, Catherine Cheung (2014),
"The classification of heritage tourists: a case of Hue City", Vietnam J Herit Tour, 9, pp. 35-50. https://doi.org/10.1080/174387 3X.2013.818677.
Lê Hào (2023) "Xây dựng, phát triển đô thị thông minh trong bối cảnh đô thị hóa
& chuyển đổi số ở Việt Nam", Cổng thông tin điện tử Bộ Xây dựng, https://moc.gov.vn/tl/tin-tuc/74979/xay-dung-phat-trien-do-thi-thong-minh-trong-boi-canh-do-
thi-hoa-chuyen-doi-so-o-viet-nam.aspx.
Hassler, U., Algreen-Ussing, G., & Kohler, N. (2002), "Cultural heritage and sustainable development in SUIT", SUIT Position Paper, 3 (9), pp. 1-5.
Nguyễn Thị Hậu (2021), "Di sản văn hoá đô
thị Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh góp phân phát triển bền vững", Bảo tồn di sản kiến trúc truyền thống
trong đô thị Việt Nam, Nxb. Xây dựng, Hà Nội.
Đào Vĩnh Hợp, Võ Thị Ánh Tuyết (2021)
"Quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc tại đô thị cổ Hội
An gắn với phát triển du lịch bền vững", Bảo tồn di sản kiến trúc truyền thống trong
đô thị Việt Nam, Nxb. Xây dựng, Hà Nội.
Nguyen To Lang (2002), "Urbanization Patterns and Urban Problems in Vietnam", J Korean Reg Dev Assoc, 3 (14) , pp. 81-92.
Long, C. (2012), "Modernity, socialism and
heritage in Asia", In P. T. Daly & T. Winter (Eds.), Routledge handbook of heritage in Asia, Routledge, pp. 201-218.
MacKee, Jamie (2013), "Developing an
alternative paradigm for Asian heritage conservation A Buddhist-systemic
perspective",
Asian heritage management: Contexts, concerns, and
prospects, Routledge.
Malarney, Shaun Kingsley (2002), Culture, Ritual and Revolution in Vietnam, Honolulu: University of California Press.
Manh Van Pham, Son Van Nghiem, Cu Van Pham, Mai
Phuong Thi Luu & Quang-Thanh Bui (2021), "Urbanization impact on
landscape patterns in cultural heritage preservation sites: a case study of the
complex of Huế Monuments, Vietnam", Landscape Ecology, 36, pp. 1235-1260.
Matsui Y, Trang DTT, Thanh NP (2015), "Estimation of Waste Generation and Recycling
Potential from Traditional Market: A Case Study in Hue City", Vietnam J Environ Prot, 06, pp. 308320, https://doi.org/10.4236/jep.2015.64031
Nguyễn Hạnh Nguyên (2018), "Bảo tồn di sản trong bối cảnh phát triển đô thị
thông minh", Tạp chí Kiến trúc, số 10, 2018, https://sis.vnu.edu.vn/bao-ton-di-san-trong-boi-canh-phat-
trien-do-thi-thong-minh?category_id=3.
Tran Phong, Shaw Rajib (2007), Towards an integrated approach of disaster and environment management: A
case study of Thua Thien Hue province, central Viet Nam, Environ Hazards, 7, pp. 271-282. https://doi.org/10.1016/j.envhaz.2007.03.001
Schwenkel, C. (2017). Haunted infrastructure:
Religious ruins and urban obstruction in Vietnam. City & Society, 29 (3), 413-434.
Taylor, K. (2012), "Heritage challenges in
Asian urban cultural landscape settings", In P. T. Daly & T. Winter
(Eds.), Routledge
handbook of heritage in Asia, Routledge, pp. 266-279.
Bui Duc Tinh (2009), Tourism Industry Responses
to the Rise of Sustainable Tourism and Related Environmental Policy
Initiatives: The Case of Hue City, Vietnam, New Zealand.
Nguyễn Mạnh Trí (2023), "Bảo tồn di sản đô thị ở Hà Nội và lợi ích cộng đồng
qua vài dự án", Tạp chí Kiến trúc, số 6, 2023.
Tweed, C., & Sutherland, M. (2007), Built
cultural heritage and sustainable urban development", Landscape and urban planning, 83 (1), 62-69.
United Nations (n.d.), "The Sustainable
Development Agenda", https://www.un.org/sustainabledevelopment/development-agenda-retired/#:~:text=%E2%97%8F,future%20for%20
people%20and%20planet.
UNESCO (N.d), "Cultural Heritage", https://uis.unesco.org/en/glossary-term/cultural-heritage.
Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí
Minh (2011), "Báo cáo tiêu chí xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh xã hội chủ
nghĩa, văn minh hiện đại".
VOV5 (2018), "Quần thể di tích Cố đô Huế
- di sản văn hóa thế giới", https://vovworld.vn/vi-VN/viet-nam-dat-nuoc-con-nguoi/ quan-the-di-tich-co-do-hue-di-san-van-hoa-the-gioi-645392.vov.
Yuen, Belinda (2005), "Strengthening urban heritage in Singapore:
Building economic competitiveness and civic identity", Global Urban Development, 1 (1), pp. 1-8.
Zetter, R., & Watson, G. B. (2016), Designing sustainable
cities in the developing world, Routledge.
Zukin, Sharon (2012), "The social
production of urban cultural heritage: Identity and ecosystem on an Amsterdam
shopping street", City, Culture and Society, 3 (4), pp. 281-291.
Bài viết đầy đủ có tại: Viện Nghiên cứu Văn hóa, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Văn hóa Việt Nam trong các chiều kích biến đổi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2025.