Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV
Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Cổng Thông tin điện tử Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Đồng
chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị quán triệt và triển
khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV
Kính
thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa
phương,
Thưa
các đồng chí đảng viên, cán bộ, đồng bào cả nước.
Hôm nay,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc để quán triệt và triển khai
thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV. Hội nghị đã được nghe
5 nội dung chuyên đề chi tiết, cụ thể do các đồng chí Lãnh đạo các cơ quan
Trung ương trình bày. Tôi cơ bản nhất trí với những định hướng thực hiện đối với
các chuyên đề đó.
Hôm qua,
tôi có trả lời báo Quân đội Nhân dân liên quan đến nhiệm vụ triển khai các Nghị
quyết của Đảng, trong đó có những nội dung liên quan đến các Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 2 khóa XIV (Nhiều báo hôm nay đã đăng toàn văn). Các đồng
chí có thể tham khảo thêm.
Những diễn
biến nhanh, rộng của tình hình quốc tế đang tác động mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực,
từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến văn hóa, khoa học kỹ thuật, làm thay đổi
nhiều trật tự đã được thiết lập trên phạm vi toàn cầu. Trong nước, sau thành
công của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết quả của cuộc bầu
cử Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031;
Kết quả của đợt 1- kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, có thể nói đường lối, hướng
đi đã rõ ràng, mạch lạc; Cơ cấu, tổ chức, đặc biệt về nhân sự, của bộ máy trong
toàn hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay
là làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả.
Tôi cho rằng:
yêu cầu đặt ra sau Hội nghị lần này là nắm vững, thấm nhuần, là phải tổ chức
triển khai thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng
điểm, tạo ra chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống chính trị và lan tỏa thành
động lực phát triển trong toàn xã hội.
Trên tinh
thần đó, tôi xin nhấn mạnh thêm 05 vấn đề sau đây:
Thứ
nhất: phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế
bản lề bảo đảm Đảng ta vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống
chính trị.
Nếu đường
lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định
của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý
chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận
hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi
hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.
Đặc biệt,
trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá vươn lên, đồng
thời cũng phải đáp ứng với những yêu cầu rất cao, rất mới, rất lớn của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì yêu cầu về giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ
cương và sự thống nhất trong toàn Đảng càng trở thành yếu tố then chốt nhằm
nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu và năng
lực tổ chức thực hiện của Đảng.
Thực tiễn
cho thấy, ở đâu quy định được quán triệt nghiêm túc, vận dụng đúng đắn, ở đó kỷ
cương được giữ vững, tổ chức được củng cố, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
được nâng cao. Ngược lại, nếu nhận thức không đầy đủ, thực hiện không nghiêm,
thì rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong vận dụng, lỏng lẻo trong kỷ luật,
thiếu thống nhất trong hành động, làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo và niềm tin của
nhân dân.
Vì vậy,
yêu cầu đặt ra là mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức
đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm
chính trị trực tiếp của mình. Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không
được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình. Mọi quy định phải được thực
hiện thống nhất, đồng bộ, nhất quán từ trên xuống dưới, gắn với kiểm tra, giám
sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh các vi phạm; đồng thời khuyến khích, biểu
dương các cách làm hay, sáng tạo theo quy định.
Thứ
hai: Đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn
để tăng trưởng bền vững
Trong một
thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ
yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ
cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn
và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời,
tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn
mới. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá,
không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt
toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước.
Do đó,
yêu cầu đặt ra không đơn thuần là điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, mà là chuyển đổi
căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích
hoạt nguồn lực. Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang
vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động
và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định.
Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc
phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại
và dẫn dắt lẫn nhau.
Đồng chí Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là làm
và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả
Vốn
nhà nước phải
được định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn kiến tạo để định hình không gian
phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn dắt và kích hoạt hiệu quả các
dòng vốn ngoài nhà nước. Vốn doanh nghiệp, bao gồm khu vực tư
nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao,
các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay
nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn
với năng lực hấp thụ và khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ
tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.
Thị
trường tài chính, bao gồm thị trường vốn, tín dụng và trái phiếu, phải thực sự trở
thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thực. Trọng tâm là hướng dòng
vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo và hệ thống hạ tầng thiết yếu, qua
đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Đặc biệt,
phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đâylà đột
phá chiến lược trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là nguồn vốn tài chính, mà
còn là tổng hòa của trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần doanh nhân và
khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu người dân. Khi được
kích hoạt hiệu quả, nguồn lực này có thể chuyển hóa thành động lực nội sinh vô
cùng to lớn, góp phần nâng cao khả năng tự cường của nền kinh tế.
Thứ
ba: Kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ
nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển.
Quy hoạch
là tư duy phát triển được không gian hóa. Vì thế, quy hoạch phát triển tổng thể
phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Tạo ra được cấu trúc
phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bố không gian phát
triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn
cho tương lai. Nếu quy hoạch được làm theo tư duy khép kín, cục bộ, manh mún, mạnh
ai nấy làm, thì không những không mở ra không gian phát triển mới, mà còn tạo
ra xung đột, chồng lấn, lãng phí nguồn lực, làm đứt gãy liên kết, và kéo tụt hiệu
quả phát triển chung, thậm chí kìm hãm sự phát triển.
Mỗi quy
hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng
thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn "hướng Đông- tỏa
Tây", "trục Bắc-Nam liền dải"-đó là tầm nhìn tổ chức không
gian phát triển quốc gia theo hướng lấy phía Đông làm không gian đột phá mở ra
đại dương, từ đó lan tỏa sức phát triển sâu vào phía Tây đất nước; trục Bắc-
Nam như dải xương sống của cơ thể con người. Từ nền tảng đó, mỗi quyết định
phát triển phải được xem xét trong quan hệ hữu cơ với hạ tầng, năng lượng, dân
cư, lao động, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, và yêu cầu phát triển dài
hạn của đất nước. Không được để quy hoạch trở thành nơi phát sinh các lỗ hổng,
khoảng trống hoặc mâu thuẫn lợi ích giữa các địa phương, các ngành, các cấp.
Đặc biệt,
trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng.
Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì
không thể có công nghiệp hóa hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng
cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới. Năng lượng phải được
đặt trong tổng thể phát triển quốc gia, trong tương quan với công nghiệp, đô thị,
logistics, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, khả năng chống chịu và an ninh quốc
gia, phải đảm bảo tự chủ.
Đi liền với
quy hoạch là vấn đề phát triển dự án. Dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo
phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin - cho, theo nhiệm kỳ, theo
hình thức bề ngoài. Mọi dự án muốn triển khai đều phải được đặt trong quy hoạch
tổng thể, được xem xét một cách rõ ràng, nghiêm túc. Trong đó, chú
trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc
gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được
mục tiêu phát triển thực sự. Không thể đầu tư lớn mà tiêu chuẩn thấp, làm
nhanh mà chất lượng không bảo đảm. Càng không thể xây dựng hôm nay mà ngày mai
đã lạc hậu, thiếu đồng bộ, khó kết nối, khó khai thác. Phải đưa tầm nhìn hàng
thế kỷ vào quy hoạch tổng thể.
Một dự án
tốt phải được đánh giá dựa trên tác động phát triển và hiệu quả kinh tế - xã hội
thực chất, trong đó mức độ thụ hưởng của người dân là tiêu chí trung
tâm. Tuyệt đối, không lấy quy mô vốn thay cho hiệu quả, không lấy số
lượng dự án thay cho chất lượng tăng trưởng, càng không lấy tốc độ giải ngân bề
ngoài thay cho hiệu quả dài hạn. Mỗi đồng vốn bỏ ra, dù là vốn nhà nước hay vốn
xã hội, đều phải được tính toán cẩn trọng về hiệu quả, độ lan tỏa, khả năng
kích hoạt đầu tư tiếp theo, khả năng tạo việc làm, tạo giá trị gia tăng, cải
thiện năng lực cạnh tranh và tăng phúc lợi xã hội.
Thứ
tư, giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực trong dân, đảm bảo mỗi người
dân, mỗi gia đình, mỗi hộ kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều trở thành chủ thể của
tăng trưởng.
Mục tiêu
tăng trưởng hai con số là mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm rất cao, cách làm
sáng tạo, bảo đảm sao cho vĩ mô đúng, nhưng vi mô cũng phải đúng. Nếu vi mô
không thông suốt, dòng vốn không chảy đến nơi cần, lao động không được sử dụng
hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ không có động
lực vươn lên, thì tăng trưởng sẽ thiếu lực đẩy, thiếu sức bền và thiếu nền tảng
phát triển bền vững cho cả quốc gia.
Nền
kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Vì vậy, tăng trưởng
thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới
lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ
kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong
dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị
trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì
nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định,
bền vững.
Vì vậy,
phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội
thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu
tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế.
Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch,
chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở,
từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát
triển bền vững.
Mỗi cơ chế,
chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt
năng lực và khát vọng phát triển trong dân, biến cơ hội tiềm năng thành thực tế
tăng trưởng, và biến niềm tin thành động lực phát triển lâu dài cho đất nước,
cho nền kinh tế.
Thứ
năm, tiếp
tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa
phương 2 cấp.
Sau gần một
năm triển khai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã vượt qua giai đoạn khởi
động ban đầu, bước đầu định hình cơ chế vận hành tương đối ổn định, thông suốt,
và đang chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng thực thi, hướng tới hiệu lực,
hiệu quả thực chất. Dự kiến tháng 7 sẽ sơ kết 1 năm thực hiện mô hình này.
Tuy
nhiên, để mô hình này phát huy đầy đủ giá trị và sức mạnh, cần được nhìn nhận
trong chỉnh thể thống nhất của nền quản trị quốc gia, với một nguyên lý xuyên
suốt, đó là: "Trung ương mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và
giám sát, địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò
then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống". Năm
2026, Trung ương đã xác định là "Năm cán bộ cơ sở", từng cơ sở phải
thay đổi.
Hình ảnh tại điểm cầu
Diên Hồng
Để hiện
thực hóa tư duy này, trước hết cần xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra
quyết định. Cấp xã phải được phân quyền rõ ràng, gắn với nguồn lực và trách
nhiệm cụ thể, để có thể chủ động giải quyết các vấn đề phát sinh, từ hạ tầng, dịch
vụ xã hội đến quản lý kinh tế - xã hội. Quyền hạn gắn liền trách nhiệm sẽ tạo
ra hiệu quả thực chất, tránh chồng chéo và trì trệ trong quản lý.
Tiếp đó,
cấp xã mạnh về huy động nguồn lực sẽ giúp cấp tỉnh chủ động
hơn trong việc điều phối và triển khai các dự án chiến lược. Cấp xã là nơi kết
nối trực tiếp các nguồn lực xã hội, kinh tế và nhân lực địa phương. Khả năng
huy động và phân bổ hiệu quả sẽ đảm bảo nguồn lực được sử dụng tối ưu, nâng cao
năng lực thực thi của cả hệ thống chính quyền hai cấp.
Cuối cùng
là cấp xã mạnh về giám sát và phản hồi. Cấp xã năng động sẽ
cung cấp dữ liệu và thông tin chính xác về thực trạng và nhu cầu của người dân,
từ đó giúp cấp tỉnh ra quyết sách phù hợp, kịp thời và chính xác. Đây chính là
cơ chế tạo sức bật, đảm bảo hiệu lực tổng thể của chính quyền địa phương hai cấp.
Để cấp xã
trở thành động lực nâng cấp chính quyền cấp tỉnh, mọi nghị quyết, chính sách và
dự án phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Đồng thời, các quyết định
này phải hướng trực tiếp tới nâng cao chất lượng đời sống người dân, thúc đẩy
phát triển kinh tế- xã hội và củng cố năng lực cạnh tranh của địa phương. Đây
cũng chính là nền tảng để bảo đảm sự thông suốt, kỷ luật và hiệu quả của toàn bộ
hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
Thưa
toàn thể các đồng chí dự hội nghị,
Những nội
dung tôi vừa trao đổi không chỉ là những yêu cầu cụ thể trong tổ chức thực hiện
Nghị quyết, mà là những vấn đề có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với năng lực
lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị
trong giai đoạn phát triển mới.
Tôi đề
nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, các đồng chí cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến
cơ sở phải thực sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động hơn,
quyết liệt hơn, thực chất hơn. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự đặt
mình trong tổng thể chung, nhìn rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong bức
tranh phát triển chung của đất nước, từ đó hành động một cách nhất quán, có kỷ
luật và có hiệu quả.
Điều quan
trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội.
Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt,
nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức
mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn
tới.
Xin
chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.Xin
trân trọng cảm ơn.
Nguồn
bài viết: Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tổng
Bí thư - Chủ tịch nước Tô Lâm