Biến đổi tín ngưỡng của người Hoa ở Hà Nội: trường hợp Hội quán Quảng Đông
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Biến đổi tín ngưỡng của người Hoa ở Hà Nội: trường hợp hội quán Quảng Đông” của TS. Phan Thị Hoa Lý (Viện Nghiên cứu Văn hóa)
Trong những thập niên gần đây, đời sống tôn giáo và tín ngưỡng dân gian nước ta đã phục hưng và phát triển mạnh mẽ, khiến cho các không gian thiêng được tái cấu trúc, đồng thời, thúc đẩy dòng chảy tiếp biến văn hóa giữa các tộc người. Trong số đó, người Hoa ở Hà Nội, với lịch sử di cư lâu đời, đã từng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và văn hóa nơi đây, là một trường hợp tiêu biểu, nơi sự giao thoa tín ngưỡng Việt – Hoa diễn ra đa tầng và phức tạp.
Khái quát về người Hoa ở Hà Nội
Người Hoa di cư đến Hà Nội sinh sống từ khá sớm, gồm nhiều đợt tập trung và kéo dài trong lịch sử, cho đến giữa thế kỉ XX. Họ di cư phần nhiều bởi lí do kinh tế, chính trị và do đó, thành phần di dân cũng phong phú, gồm: tị nạn chính trị, thương nhân, thợ thủ công, dân di cư tự do,…
Theo nghiên cứu của Nguyễn Vinh Phúc, từ giữa thế kỉ XV, người Hoa sinh sống ở Thăng Long tập trung ở phường Đường Nhân (nay là phố Hàng Ngang). Đến thế kỉ XVII, họ phải dời xuống Phố Hiến một thời gian theo lệnh chỉ của triều đình, rồi lại được quay về Thăng Long và cư trú lan sang phường Hà Khẩu (nay là phố Hàng Buồm). Đến thế kỉ XIX, kinh đô chuyển vào Huế, việc quản lí Hoa kiều được nới lỏng nên họ tự do cư trú, mở rộng địa bàn sinh sống tới phố Hàng Bồ, Mã Mây và phố Phúc Kiến (nay là phố Lãn Ông) (Nguyễn Vinh Phúc, 1994: 111). Một bộ phận người Hoa nghèo khổ thì sống ở ngõ Sầm Công (nay là phố Đào Duy Từ), Quảng Lạc (nay là phố Tạ Hiện), Mã Mây, Lương Ngọc Quyến hay bến tàu (nay là đầu cầu Chương Dương ở phía nam) và phố Trần Nhật Duật (Nguyễn Vinh Phúc, 1994: 113-114).
Trong suốt thế kỉ XIX, đến nửa đầu thế kỷ XX, có nhiều đợt người Hoa nhập cư vào nước ta nói chung, Hà Nội nói riêng, do chạy loạn Thái Bình Thiên Quốc, do công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, chiến tranh Trung – Nhật hay tình hình kinh tế, xã hội ở Trung Quốc. Đầu thế kỉ XX, số lượng người Hoa không ngừng tăng lên. Cụ thể là: năm 1911, Hà Nội có 2.150 người Hoa; năm 1921 có 2.380 người; năm 1925 có 3.377 người; năm 1928 có 4.428 người (Nguyễn Vinh Phúc, 1994). Sau năm 1954, khi Việt Nam bị chia cắt, nhiều người Hoa ở miền Bắc nói chung, Hà Nội nói riêng đã theo Voòng A Sáng đi vào Miền Nam, số còn lại, do sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Trung - Việt, cũng được hưởng một số quyền lợi giống như người Việt. Tiếp đó, khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc trở nên căng thẳng, phần lớn người Hoa ở Hà Nội trở về nước hoặc di cư đến các nước khác, chỉ một số ít ở lại. Từ sau năm 1978, nhiều người Hoa ở Hà Nội tự nguyện chuyển đổi tộc danh và cũng có một số đã kết hôn với người Việt. Đến năm 2019, theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở, Hà Nội có 1.731 người Hoa (Tổng cục Thống kê, 2020: 60).
Người Hoa ở Hà Nội gồm các nhóm: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu và Hải Nam, trong đó, đông nhất là nhóm Quảng Đông, rồi đến nhóm Phúc Kiến, Hải Nam, nhóm Triều Châu chiếm số lượng ít nhất. Người Quảng Đông sống chủ yếu ở phố Hàng Ngang nên con phố này xưa được gọi là phố Việt Đông (Việt Đông tức là Quảng Đông). Một số bia trong Hội quán Quảng Đông cho biết, họ phần đông là người ở hai huyện Thuận Đức và Nam Hải của tỉnh Quảng Đông di cư đến (Trần Thanh Tùng, 2006). Họ cũng là nhóm có tiềm lực kinh tế mạnh nhất. Từ những năm 1802 - 1819, người Hoa gốc Quảng Đông đã có tới 65 cửa hiệu buôn bán ở Thăng Long và những chủ hiệu này là thành phần đóng góp chủ yếu để xây dựng Hội quán (Trần Thanh Tùng, 2006). Nhóm Phúc Kiến sống tập trung ở phố Hàng Buồm kéo dài nên con phố này xưa được gọi là phố Phúc Kiến. Sau, do người Phúc Kiến ở đây phần nhiều làm nghề buôn bán thuốc Bắc nên phố được đổi tên thành phố Lãn Ông. Người Triều Châu cư trú chủ yếu ở phố Hàng Bồ.
Người Hoa ở Hà Nội được quản lí theo hình thức bang. Ba nhóm: Quảng Đông, Phúc Kiến và Triều Châu mỗi nhóm lập một bang riêng. Đứng đầu bang là một trưởng bang và một hoặc hai phó bang, do các thành viên trong bang bầu ra. Bang thường lấy hội quán làm “Trụ sở” làm việc. Bang Phúc Kiến và Quảng Đông xây hội quán riêng, còn bang Triều Châu không có hội quán mà sinh hoạt chung với nhóm Quảng Đông (Nguyễn Vinh Phúc, 1994: 114).
Người Hoa ở Hà Nội có những nét riêng trong phong tục, tập quán. Nghiên cứu của Nguyễn Vinh Phúc cho biết, họ tổ chức đón tết Nguyên đán rất lớn và sau tết thường có những đoàn tuồng từ Trung Quốc sang biểu diễn tại hội quán hay rạp hát của họ. Họ cũng có những gánh xiếc, gánh võ để biểu diễn võ thuật, xiếc hay làm trò ảo thuật vào dịp này. Vào những dịp lễ, tiết, nhất là tết Nguyên đán, người Hoa hay đi lễ ở đền Tây Suông, đền Bạch Mã, đền Ngọc Sơn hay đền Sầm Công. Tại tư gia, họ thường thờ Quan Công, thần Tài hay thờ chung nhiều vị thần bằng một tờ tranh viết chữ “Thần.” Thần Tài được đặt trong một khám nhỏ ở góc nhà và gia chủ thường thắp hương vào buổi tối (Nguyễn Vinh Phúc, 1994: 117). Người Hoa thờ cúng tổ tiên của mình ở vị trí trang trọng nhất của ngôi nhà. Vào dịp Thanh minh, họ thường đi tảo mộ. Khu nghĩa địa của họ nằm ở ngõ 420 đường Hoàng Hoa Thám hiện nay, do người Hoa bỏ tiền ra mua (Phong Anh, 2013).
Tại Hà Nội, người Hoa xây dựng miếu Quan Thánh (nay ở số 28 phố Hàng Buồm) làm nơi thờ Quan Công cùng hai hội quán làm nơi hội họp, sinh hoạt và thờ cúng chung của cộng đồng. Hội quán Quảng Đông ở số 22 phố Hàng Buồm, thờ Quan Công là vị thần chính còn Hội quán Phúc Kiến ở số 40 phố Lãn Ông, thờ Thiên Hậu là vị thần chính.
Về di tích Hội quán Quảng Đông
Hội quán Quảng Đông còn được gọi là Hội quán Việt Đông, Hội quán Dân Quốc, hiện tọa lạc tại số 22, phố Hàng Buồm, do những người Hoa quê gốc ở Quảng Đông (Trung Quốc) sống ở Hà Nội đóng góp xây dựng lên vào năm 1800 (Nguyễn Quang Hồng chủ biên, 1992: 69). Sau này, khi thực dân Pháp bãi bỏ việc học chữ Hán - Nôm và cổ súy cho việc dùng chữ Latin thay thế, bang Quảng Đông liền xây dựng thêm khu học hiệu để dạy tiếng Trung và văn hóa truyền thống cho con em mình vào năm 1920. Lúc đầu, ngôn ngữ chính là tiếng Hoa, các thầy cô giáo cũng là người Hoa hoặc người Việt gốc Hoa. Đến đầu những năm 1970, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính và xuất hiện nhiều thầy cô giáo người Việt trong trường.
Hội quán nằm trên một khu đất hình chữ nhật, có diện tích 1670m2 (Trần Thanh Tùng, 2006: 7-9). Cho đến nay, Hội quán đã được trùng tu nhiều lần, vào các năm 1820, 1844, 1920, 1993-1994, 1995, 1998, 2000 (Trần Thanh Tùng, 2006: 7-8) và được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử - Kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, theo Quyết định số 01/2007/QĐ-VHTTDL, ngày 27/8/2007. Từ sau năm 1978 - 1979, người Hoa ở Hà Nội ra đi gần hết, Hội quán được chính quyền sở tại lúc đó là quận Hoàn Kiếm tiếp quản và sử dụng làm Trường Mầm non Tuổi Thơ cho đến năm 2021 (Trần Thanh Tùng 2006: 15).
Do có kiến trúc độc đáo, lại là nơi nhà cách mạng Trung Quốc - Tôn Trung Sơn đã từng lưu trú, nên Hội quán Quảng Đông có nhiều giá trị về kiến trúc, lịch sử và văn hóa. Hội quán cũng nằm trong khu vực phố cổ, có nhiều công trình kiến trúc đẹp và độc đáo, được bảo tồn để phục vụ cho việc phát triển du lịch của Hà Nội. Bởi vậy, chính quyền đã cho di dời Trường Mầm non Tuổi Thơ đi nơi khác, giải tỏa mặt bằng, tiến hành trùng tu di tích để chuyển đổi thành điểm tham quan, du lịch. Đây là đợt trùng tu lớn, được khởi công từ năm 2020 và hoàn thành vào cuối năm 2021, khôi phục lại các hạng mục công trình cũng như kiểu dáng kiến trúc của Hội quán như đợt trùng tu năm 1920 (Trần Thanh Tùng, 2006: 7). Sau khi trùng tu xong, nơi đây được gắn biển hiệu: “Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật Hàng Buồm,” là nơi diễn ra các cuộc triển lãm, giao lưu văn hóa, đồng thời trở thành điểm tham quan du lịch của thành phố.
Từ ngoài đi vào là tòa tiền đường, phía trên cửa đề bốn chữ: “Dân Quốc hội quán,” trên cao hơn là bức đại tự bằng đá: “Việt Đông hội quán”. Mép bên phải cửa (theo hướng đi từ ngoài vào) có một tấm bảng bằng đá, trên có khắc dòng chữ “Cụ Tôn Trung Sơn, người đi trước trong cuộc cách mạng dân chủ vĩ đại của Trung Quốc, năm 1904 đã từng ở đây,” bằng hai ngôn ngữ: Việt, Hoa. Tiếp nối với tiền đường là tòa trung đường rộng lớn, có một nửa mái làm theo kiểu nhà vuông bốn mái, một nửa là mái chảy bên ngoài nhưng mái bằng bên trong. Phần tường gần mái của nhà vuông có hàng cửa sổ nhỏ hai lớp bao quanh, (lớp trong là cửa kính, lớp ngoài là cửa chớp, làm bằng gỗ). Dưới hàng cửa sổ là các bức phù điêu bằng gốm thể hiện chủ đề “tứ linh,” “tứ quý” và hoa lá, cỏ cây, muông thú. Mặt trước của trung đường để thoáng, thông với tiền đường, mặt sau có cửa lớn mở ra sân thiên tỉnh rồi tới hậu cung. Hai bên sân thiên tỉnh này có hai dãy tả vu và hữu vu. Bên phải hậu cung (theo hướng từ ngoài đi vào) là cung thờ Thiên Hậu, bên trái hậu cung là khu trường học. Trên các bờ mái, bờ nóc, tường… của Hội quán được trang trí hình đôi chép hóa rồng chầu quả cầu lửa, hình hoa lá, chim muông hay các quần thể tiểu tượng gốm, thể hiện các tích truyện của Trung Quốc.
Tại hậu cung, khám thờ Quan Công được đặt ở gian giữa, phía trước có tượng của hai cận vệ là Châu Xương và Quan Bình. Ba bức tượng này được người Hoa đem từ Trung Quốc sang, khác với tượng của người Việt. Hai gian bên cạnh thờ thần Tài (Tài Bạch Tinh Quân) và Thành hoàng. Cách bài trí này vẫn được duy trì như thời kì người Hoa quản lí hội quán. Ba bộ khám thờ Quan Công, thần Tài và Thành hoàng đều được làm bằng gỗ và chạm trổ theo đề tài “tứ linh,” “tứ quý” trông rất đẹp mắt.
Ban thờ Quan Công trong Hội quán Quảng Đông
(Nguồn: Phan Thị Hoa Lý, chụp ngày 04/01/2022)
Tại cung Thiên Hậu chỉ có một khám thờ, bên trong có một bức tượng Thiên Hậu ngồi, mặc trang phục màu vàng, phía trước có hai cận vệ là Thiên Lý Nhãn và Thiên Lý Nhĩ (còn gọi là Thuận Phong Nhĩ) đứng ở hai bên. Khoảng năm 1996 đã xảy ra một vụ hỏa hoạn tại cung thờ này, khiến cho khám thờ và các tượng cùng đồ thờ bằng gỗ bị cháy hết. Sau đó, Ban quản lí di tích của phường đã làm hồ sơ xin làm lại khám thờ cùng các tượng và đồ thờ như cũ.

Ảnh 2: Khám thờ Thiên Hậu trong Hội quán
(Nguồn: Phan Thị Hoa Lý, chụp ngày 30/11/2021)
Hội quán Quảng Đông thể hiện một số đặc trưng của lối kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng Hoa truyền thống, nhưng nó cũng chịu ảnh hưởng rõ nét của lối kiến trúc Pháp và Việt. Kiến trúc Hoa truyền thống thể hiện ở kiểu ngói âm dương, các hạng mục của công trình được bố cục trong một khuôn hình khép kín, có sân thiên tỉnh ở khoảng giữa và các quẩn thể tiểu tượng gốm trang trí trên mái, trên bờ nóc theo các tích truyện Trung Quốc,… Ảnh hưởng của kiến trúc Pháp thể hiện ở việc sử dụng một số vật liệu mới như: xi măng, cốt thép, một số họa tiết trang trí hình chữ thập, hình kẻ caro, các hình vuông nối nhau, kiểu nhà nhiều tầng với cầu thang ngoài và hệ thống cửa kính, cửa chớp… Đặc biệt là kết cấu của tòa phương đình với lớp mái bằng ở bên trong được làm bằng xi măng, cốt thép, trần cao và hệ thống cột chống đỡ mái bằng kim loại. Ảnh hưởng của kiến trúc Việt thể hiện ở một số vì kèo làm theo lối giá chiêng, chồng rường hay sử dụng vật liệu và một số nhân công sở tại.
Từ năm 2022, Hội quán Quảng Đông trở thành nơi diễn ra các cuộc triển lãm nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, nơi dạy nghề, đồng thời cũng là điểm tham quan phục vụ du khách trong nước và quốc tế. Khu vực thờ tự vẫn được duy trì. Khách tham quan và người dân có thể đến đây cầu cúng nếu họ muốn. Hội quán trở thành một điểm du lịch văn hóa, tâm linh khá hấp dẫn, thu hút nhiều người dân, nhất là giới trẻ đến đây tham quan và chụp ảnh lưu niệm.
Các thực hành tín ngưỡng tại Hội quán Quảng Đông và quá trình biến đổi
Từ năm 1978 trở về trước, Hội quán Quảng Đông là trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Hoa gốc Quảng Đông ở Hà Nội. Đây là nơi họ họp hành, bàn bạc các công việc chung của cả cộng đồng, vừa là trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng, đồng thời cũng là trung tâm giáo dục, văn hóa và vui chơi của họ. Sau năm 1978-1979, Hội quán được chính quyền sở tại tiếp quản và sử dụng làm trường mầm non, người Hoa không còn tham gia vào bất cứ hoạt động nào của Hội quán nữa. Tuy nhiên, khu vực thờ tự bao gồm phần hậu cung thờ Quan Công và một gian thờ nhỏ nằm bên cạnh - là nơi thờ Thiên Hậu - thì vẫn được bảo tồn và thuộc sự quản lí, trông coi trực tiếp của nhà trường. Có những thời điểm trường rất đông học sinh thì cả hai không gian này đều được sử dụng làm lớp học, nhà trường dùng rèm che kín các khám thờ lại.
Từ khi trở thành trường học, quận Hoàn Kiếm giao cho nhà trường trực tiếp quản lí và trông coi luôn cả khu vực thờ tự nói trên. Các thế hệ quản lí nhà trường (hoàn toàn là người Việt) đã chủ động tìm hiểu, học hỏi để xây dựng nên lịch tiết cùng những nghi thức thờ cúng cho các vị thần ở đây và truyền lại cho những người kế tục. Ban đầu, họ chưa biết rõ các vị thần trong Hội quán là ai, quy cách thờ cúng như thế nào nhưng với tâm lí coi đây là các vị thần “ngự trên đất nhà mình thì mình phải có trách nhiệm thờ cúng”, và niềm tin rằng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, họ đã dần dần khôi phục cũng như xây dựng lên những thực hành tín ngưỡng mới cho không gian thiêng này.
Từ sau Đổi mới (1986), một số khách đến thắp hương ở Hội quán này đã tiến cúng bức tượng thần Tài, vua Bếp của người Nhật và ngựa gỗ. Đến khoảng năm 2015, ban quản lí trường đã lập thêm hai ban thờ ở hiên hậu cung để thờ những vị thần này. Hiên bên phải (theo hướng từ trong nhìn ra) thờ tượng ngựa gỗ màu đỏ, đặt trên giá có bốn bánh xe nhỏ, bên trái đặt ban thờ thần Tài và vua Bếp. Tượng vua Bếp khá nhỏ đầu quấn khăn, một chân co ngang đầu gối, tay phải giơ lên cao, các ngón tay xòe ra, tay trái nắm lại để trước ngực, môi bặm lại, nhìn khá lạ mắt. Tượng thần Tài được tiến cúng vào khoảng năm 1990, còn bức tượng vua Bếp được tiến cúng khoảng trước năm 2017. Ở đây, chúng ta thấy rõ sự hỗn dung thú vị giữa thần Tài có nguồn gốc từ tín ngưỡng của người Hoa với vị thần Đất (còn gọi là Thổ công, Thổ thần) của người Việt. Thần Tài của người Hoa là vị thần giúp gia chủ thu hút tiền bạc, của cải và may mắn trong kinh doanh, là biểu tượng của sự thịnh vượng và phú quý, còn Thổ thần của người Việt là vị thần cai quản mảnh đất nơi ông được thờ phụng, giữ gìn trật tự và bình an cho ngôi nhà. Thần Tài của người Hoa bao gồm một hệ thống nhiều vị thần nhưng phổ biến nhất là Tài Bạch Tinh Quân với tạo hình râu dài, tay cầm thoi vàng. Thần Tài ở ban thờ này có dung mạo của Tài Bạch Tinh Quân nhưng lại được thờ ở hiên của hậu cung – vị trí của một người lính gác và được coi là “chúa Đất”, cho thấy một sự kết hợp giữa ngoại hình của thần Tài người Hoa với chức năng của vị thần Đất người Việt. Có thể thấy, hai vị thần này là minh chứng cho sự tiếp biến không chỉ giữa văn hóa Hoa với văn hóa Việt mà còn với cả văn hóa Nhật ở Hội quán này.

Ban thờ thần Tài và vua Bếp bên hiên Hội quán
(Nguồn: Phan Thị Hoa Lý, chụp ngày 10/9/2025)
Bên cạnh sự biến đổi về thần điện như đã nói ở trên thì các lễ tiết và nghi thức thờ cúng ở đây cũng có sự thay đổi mạnh mẽ. Từ sau năm 1954, khi số lượng người Hoa ở Hà Nội giảm và do điều kiện chiến tranh, các sinh hoạt tín ngưỡng tại Hội quán chìm lắng. Từ sau năm 1978, những người quản lý trường học đã tự tìm tòi, học hỏi, dần dần xây dựng nên những quy cách thờ cúng mới. Ban đầu, khoảng từ năm 1978 đến năm 1994, họ đã tự mình đi hỏi một số người về cách thức thờ cúng tại các đền, miếu (của người Việt) rồi đặt ra lệ cúng hương, hoa vào các ngày sóc, vọng và tết. Từ năm 1994 đến năm 2012, họ đã hỏi các chuyên gia, những người đến tìm hiểu, nghiên cứu về Hội quán để biết ngày kị của Tam Thánh, đồng thời được thầy cúng hướng dẫn phải làm bốn lễ cúng lớn vào bốn mùa trong năm. Từ đó, ngoài những ngày rằm, mồng một và tết thì trường có thêm 7 lễ cúng khác trong năm (là bốn vấn và ba ngày kỵ của “Tam Thánh”). Từ năm 2012 đến nay, những lễ, tiết đã được xây dựng từ trước vẫn được tiếp nối. Những ngày lễ của các vị thần trong Hội quán đã được cẩn thận ghi chép lại vào một cuốn sổ nhỏ, cất trong khám thờ Quan Công.
Bốn lễ cúng lớn được người thực hành lễ gọi là bốn “vấn,” gồm: 1) Lễ lập xuân, cúng vào tháng 1 âm lịch; 2) Lễ vào hạ, cúng vào tháng 4 âm lịch; 3) Lễ ra hạ, cúng vào tháng 7 âm lịch, đồng thời cũng làm lễ cúng chúng sinh luôn và được thực hiện trước ngày 15/7; 4) Lễ tất niên, cúng trước ngày 23/12 âm lịch. Lễ vật trong bốn dịp này được mua theo sự hướng dẫn của thầy cúng, nhưng thường có những đồ cúng như những ngày kị các quan và đồ mã, ngựa, quần áo giấy, tiền vàng cũng được mua nhiều hơn. Đây được coi là bốn lễ cúng lớn nhất trong năm của Hội quán và nhà trường thường mời thầy cúng đến cúng. Khi làm lễ cúng cho Tam Thánh “thầy cúng đọc bài cúng Phật trước, sau đó cúng các quan, đọc tên các quan lên”. Sau lễ cúng này, thầy cúng sẽ làm lễ cúng chúng sinh ở ngoài sân thiên tỉnh, trước hậu cung.
Những người thực hành lễ cũng được hướng dẫn rằng, mỗi năm bao sái tượng Tam Thánh một lần, vào tháng 7 âm lịch, trước ngày rằm. Như vậy, nhờ học hỏi từ các chuyên gia về lĩnh vực văn hóa, tín ngưỡng - những người có hiểu biết về nhân vật Quan Công – mà những người thực hành lễ đã khôi phục những lễ cúng vị thần này đúng với nguyên gốc.
Cho đến nay, những người quản lý Trường Mầm non Tuổi Thơ vẫn chưa rõ bà Thiên Hậu là ai, chỉ biết đó là một nữ thần của người Hoa. Họ cũng không biết ngày kị của bà nên bà không có ngày cúng riêng mà chỉ được cúng kiếng vào các dịp lễ, tiết khác của Hội quán. Tuy nhiên, do họ được thầy nói rằng bà rất xinh đẹp và thích màu vàng nên trang phục cũng như lễ vật cúng bà đều được họ chọn là màu vàng và là đồ chay. Đặc biệt, trong nghi thức cúng Thiên Hậu, bao giờ người cúng cũng tụng kinh để cầu an, cầu sức khỏe.
Chúng ta đều biết, Tam, Tứ phủ là tín ngưỡng thờ Mẫu đặc trưng của người Việt. Tứ phủ là bốn phủ, gồm: Thiên phủ là miền trời, biểu tượng là Mẫu Thượng Thiên với trang phục màu đỏ; Địa phủ là miền đất với biểu tượng là Mẫu Địa, mặc trang phục màu vàng; Thoải phủ là miền sông nước, với biểu tượng Mẫu Thoải mặc trang phục màu trắng và Nhạc phủ được đại diện bởi Mẫu Thượng Ngàn, mặc trang phục màu xanh. Ở đây, bà Thiên Hậu vừa được coi là Mẫu Thoải trong tín ngưỡng Tứ phủ của người Việt, nhưng lại mang màu trang phục của Mẫu Địa, vừa được coi như một vị Phật (thể hiện qua đồ cúng chay và nghi lễ cầu an). Đến đây, với tên gọi Mẫu Thoải, lại mang màu sắc trang phục của Mẫu Địa, đồng thời được gắn với một vài chức năng, đặc tính của Phật Bà, có thể nói, tín ngưỡng Thiên Hậu tại Hội quán này đã được Việt hóa mạnh mẽ. Kết quả này là do những người trực tiếp thực hành tín ngưỡng Thiên Hậu tại Hội quán là những viên chức người Việt, ít am hiểu về lĩnh vực văn hóa, tín ngưỡng và những người mà họ học hỏi cách thức thờ cúng Bà cũng là người Việt, trong đó có thầy cúng. Tất cả họ hầu như không biết về lai lịch, hành trạng của bà Thiên Hậu, bởi vậy mà bà dễ được đồng nhất với những vị thần, Phật của người Việt có những chức năng và đặc tính tương đồng.
Từ năm 2022, Hội quán không còn là trường học nữa mà trở thành một trung tâm giao lưu văn hóa, đồng thời là một điểm tham quan trong dự án du lịch của thành phố, hàng ngày mở cửa phục vụ khách tham quan. Từ lúc này, Hội quán thuộc sự quản lí trực tiếp của Ban quản lí di tích khu phố cổ, hàng ngày đều có nhân viên ngồi bán vé tham quan và bảo vệ trông coi. Họ làm việc và được trả lương như những viên chức nhà nước khác. Cũng từ đó, BQL đã điều chỉnh lại toàn bộ lịch lễ tiết cũng như quy cách thờ cúng của Hội quán, theo đó, họ chỉ duy trì việc cúng vào ngày rằm, mồng một hàng tháng và ba lễ cúng Quan Công, gồm: lễ hóa (ngày 13/1 âm lịch), lễ sinh nhật (24/6) và ngày hiển Thánh (07/12). Ban quản lí sắm sửa lễ vật gồm xôi, thịt cùng hoa quả… và làm lễ cúng. Bà Thiên Hậu cũng được cúng lễ vào những dịp này với lễ vật đơn giản như xôi, thịt, hoa quả. Bốn lễ cúng lớn trong năm mà những vị quản lí trường học xây dựng lên và duy trì nhiều năm qua, giờ đây đã được lược bỏ. Như vậy, trong khoảng nửa thế kỉ qua, Hội quán Quảng Đông đã trải qua hai chặng biến đổi mạnh mẽ. Chặng thứ nhất là từ sau năm 1978 đến 2021, Hội quán trở thành trường mầm non nhưng khu vực thờ tự vẫn được bảo tồn, thần điện cũng được gìn giữ và dần bổ sung hai vị thần mới (vua Bếp Nhật Bản cùng thần Tài mang chức năng của Thổ thần người Việt), đồng thời khôi phục và xây dựng nhiều lễ, tiết cùng một số nghi thức mới như bốn lễ cúng lớn vào bốn mùa cùng nghi thức cúng cô hồn trong bốn dịp này… Chặng thứ hai là từ năm 2022 đến nay, Hội quán trở thành trung tâm văn hóa nghệ thuật và điểm du lịch văn hóa, tâm linh với rất nhiều lễ, tiết bị lược bỏ, tuy thần điện vẫn được duy trì như ở chặng trước. Ở cả hai chặng này, người Hoa đều không còn tham gia vào mọi hoạt động của Hội quán, thay vào đó, chính quyền sở tại quản lí và đưa ra những quyết định thay đổi công năng sử dụng của di tích này. Chính điều này đã quyết định những xu hướng biến đổi của các thực hành tín ngưỡng tại Hội quán.
*
* *
Cho đến nay, các thực hành tín ngưỡng tại Hội quán Quảng Đông đã có sự biến đổi mạnh mẽ và đa chiều: các lễ cúng Quan Công được khôi phục theo nguyên gốc, trong khi Thiên Hậu được đồng nhất với Mẫu Thoải trong điện thần Tứ phủ của người Việt và thần Tài được lai ghép giữa hình tướng thần Tài người Hoa với chức năng của Thổ thần người Việt. Bên cạnh đó còn có sự du nhập của vua Bếp Nhật Bản – một yếu tố văn hóa mới. Những chiều kích biến đổi này là minh chứng rõ nét về mối quan hệ phức hợp giữa văn hóa di sản (heritage culture) của người di cư với văn hóa tiếp nhận (receiving culture) trong quá trình tiếp biến văn hóa. Bên cạnh đó, bài viết còn là một nghiên cứu đề cập đến cách ứng xử của chính quyền sở tại với di sản văn hóa của di dân – một chủ đề thú vị trong những nghiên cứu về tiếp biến văn hóa của di dân Hoa trên khắp thế giới./.
Bài viết đầy đủ có tại: Tạp chí Dân tộc học và Tôn giáo học, Số 5 (05), 2025
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phong Anh (2013), “Bí ẩn khu mộ cổ người Tàu giữa lòng Hà Nội,” https://cand.com.vn/Phong-su-Tieu-diem/Bi-an-khu-mo-co-nguoi-Tau-giua-long-Ha-Noi-i320350/, ngày đăng tải 12/8/2013, ngày truy cập 25/6/2021.
Nguyễn Thị Hòa (2003), “Hội quán Phúc Kiến, phố Lãn Ông, Hà Nội, một công trình kiến trúc rất quen mà rất lạ,” Tạp chí Khảo cổ học, số 3.
Nguyễn Thị Hòa (2002), “Hội quán Phúc Kiến,” trong Ban chỉ đạo quốc gia Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, Di tích lịch sử - văn hóa trong khu phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm - Hà Nội, Nxb. Hà Nội.
Nguyễn Hoài, Nguyễn Loan, Nguyễn Tuệ (2002), Từ điển đường phố Hà Nội, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Quang Hồng (Chủ biên, 1992), Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
Nguyễn Thừa Hỷ (1993), Thăng Long-Hà Nội, thế kỷ XVII-XVIII-XIX, Hội Sử học Việt Nam, Hà Nội.
Hoàng Lân (2018), “Thẩm định dự án tu bổ, tôn tạo di tích hội quán Quảng Đông,” https://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Van-hoa/917181/tham-dinh-du-an-tu-bo-ton-tao-di-tich-hoi-quan-quang-dong, ngày đăng tải 30/10/2018, ngày truy cập 28/5/2020.
Phan Huy Lê (Chủ biên, 2012), Lịch sử Thăng Long-Hà Nội, Nxb. Hà Nội.
Tuyết Minh (2015), “Kinh nghiệm từ việc trùng tu Hội quán Phúc Kiến,” http://www.hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Van-hoa/810149/kinh-nghiem-tu-viec-trung-tu-hoi-quan-phuc-kien, ngày đăng tải 03/10/2015), ngày truy cập 14/12/2020.
Nguyễn Vinh Phúc (1994), “Người Hoa với sự hình thành các phố nghề ở Hà Nội,” Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4, tr.111-120.
Nguyễn Vĩnh Phúc (2006), “Phố Hiến nhìn từ Thăng Long,” trong UBND tỉnh Hải Hưng – Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Phố Hiến - Kỷ yếu hội thảo khoa học, Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Hải Hưng tái bản lần thứ nhất (2006), tr.176-184.
Phan Phương Thảo (Chủ biên, 2013), Khu phố cổ Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX qua tư liệu địa chính, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả toàn bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
Trần Thanh Tùng (2006), Hồ sơ di tích hội quán Quảng Đông, Ban Quản lí Di tích – Danh thắng Hà Nội, Hà Nội, bản đánh máy trên giấy A4.
Phan Thị Yến Tuyết (2001), “Về lai lịch một ngôi miếu xưa tại Hà Nội,” trong Nghĩ về Thăng Long Hà Nội, Nxb. Trẻ.
Tư liệu phỏng vấn và khảo sát tại Hội quán năm 2021, 2022 của Phan Thị Hoa Lý.
Trần Thị Vinh (2006), “Thăng Long – Phố Hiến mối quan hệ giao thương ở thế kỷ XVI – XVII,” trong UBND tỉnh Hải Hưng – Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Phố Hiến - Kỷ yếu hội thảo khoa học, Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Hải Hưng tái bản lần thứ nhất (2006), tr.196-201.