image banner
VI | EN
Vai trò của cộng đồng chủ thể trong phục dựng lễ hội Lồng tồng
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Vai trò của cộng đồng chủ thể trong việc phục dựng lễ hội Lồng tồng ở xóm Tỉn Kheo, xã Phú Đình, tỉnh Thái Nguyên” của TS. Đoàn Thị Tuyến (Viện Nghiên cứu Văn hóa).  
anh tin bai

Di sản văn hoá gồm di sản văn hoá phi vật thể “là tri thức, kĩ năng, tập quán, biểu đạt văn hoá cùng đồ vật, đồ tạo tác, không gian liên quan được cộng đồng, nhóm người, cá nhân thực hành, trao truyền qua nhiều thế hệ và hình thành nên bản sắc văn hoá của họ” (Điều 3, khoản 1, Luật Di sản văn hoá sửa đổi, bổ sung năm 2024). Di sản văn hoá phi vật thể bao gồm các loại hình như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật biểu diễn, tri thức dân gian, v.v.

Vai trò của cộng đng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, từ Luật Di sản văn hoá đầu tiên năm 2001 đến các lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009 và 2024 đều có đề cập, với các mức độ khác nhau. Ở Luật Di sản văn hóa năm 2001, vấn đề này mới chỉ được đề cập khái quát. Chẳng hạn, Điều 13 quy định: “Cộng đồng cư dân nơi có di sản văn hoá có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở địa phương”; trong khi Điều 20 nêu: “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho cộng đồng, tổ chức cá nhân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể”; và đến Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009, vai trò của cộng đồng đã được xác định cụ thể, rõ ràng, đặc biệt khoản 2 Điều 4 của Luật khẳng định: “Cộng đồng là chủ thể nắm giữ, thực hành và truyền dạy di sản văn hoá phi vật thể”. Đây có thể coi là bước tiến quan trọng, thể hiện sự ghi nhận về mặt pháp lý đối với cộng đồng như một thực thể trung tâm trong đời sống di sản. Tiếp đó, Luật Di sản văn hoả sửa đổi, bổ sung năm 2024 (có hiệu lực từ tháng 7 năm 2025), tiếp tục tăng cường và mở rộng vai trò của cộng đồng. Luật không chỉ khẳng định vị trí trung tâm của cộng đồng, nhóm người và cá nhân trong bảo tồn, phát huy di sản, mà còn thiết lập cơ chế hỗ trợ, khuyến khích sự tham gia của họ cùng các tổ chức xã hội vào các hoạt động liên quan đến di sản văn hoá. Qua các lần ban hành và sửa đổi (2001, 2009, 2024), có thể thấy vai trò của cộng đồng chủ thể ngày càng được đánh giá cao trong chính sách và pháp luật về di sản văn hoá ở Việt Nam. Cộng đồng không chỉ được xem là người “nắm giữ” hay “thực hành” di sản, mà còn là trung tâm của quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể.

Trong lĩnh vực nghiên cứu di sản văn hoá, vai trò của cộng đồng chủ thể đã được các học giả trong và ngoài nước đề cập với nhiều phát hiện đáng chú ý. Một số nhà nghiên cứu cho rằng vai trò của cộng đồng đang chịu những thách thức và biến đổi đáng kể trong bối cảnh đương đại. Theo Oscar Salemink (2012), quá trình di sản hoá đã khiến nhiều thực hành văn hoá trở thành “tài sản quốc gia”, qua đó làm suy giảm quyền kiểm soát của cộng đồng - chủ thể gốc của di sản - đối với các thực hành văn hoá mà họ từng nắm giữ hoàn toàn trong quá khứ. Nói cách khác, khi di sản được “nâng cấp” lên tầm quốc gia, quyền định đoạt và quản lý dần chuyển từ cộng đồng sang các thiết chế hành chính - văn hoá của Nhà nước. Tại Việt Nam, nhiều học giả cũng chia sẻ nhận định này. Trong nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Lê Hồng Lý (2014) chỉ ra rằng, sau khi được UNESCO ghi danh, toàn bộ khu di tích lịch sử Đn Hùng được đặt dưới sự quản lý của Trung tâm Quản lý di tích lịch sử Đn Hùng - đơn vị trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ (cũ). Theo đó, các nghi lễ diễn trong khu di tích đều được tổ chức theo kế hoạch của chính quyền, ít tham khảo hoặc dựa trên các nghi thức truyền thống của cộng đồng địa phương. Tác giả cho rằng chính sự “hành chính hoá” này đã dẫn tới việc các chủ thể của di sản - bị ngoài lề hoá khỏi chính không gian văn hoá văn hoá vốn thuộc về họ. Những quan sát tương tự cũng xuất hiện trong các công trình của Nguyễn Thị Phương Châm (2018) và Hoàng cầm (2018), khi nghiên cứu về di sản Hát Xoan Phú Thọ và không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. Các tác giả nhận thấy, sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào quá trình bảo tồn sau ghi danh - thông qua các biện pháp “hành chính hoá”, “chọn lọc”, “cải biên” nhằm phục vụ du lịch và sân khấu hoá - đã vô hình trung khiến cộng đồng mất đi quyền tự chủ và sáng tạo trong các thực hành di sản. Hệ quả là xuất hiện tâm lí ỷ lại, coi di sản là của Nhà nước và trông chờ sự hỗ trợ kinh phí từ trên xuống thay vì chủ động bảo tồn.

Song song với những quan điểm vừa nêu, một số nhà nghiên cứu khác lập luận vai trò của cộng đồng chủ thể tuy có lúc bị thu hẹp, nhưng chưa bao giờ bị loại trừ hoàn toàn khỏi đời sống di sản. Nguyễn Thị Hiền (2025), trong nghiên cứu về Di sản hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc, chỉ ra rằng với Hội Gióng ở đền Phù Đổng, dù có sự phối hp với chính quyền địa phương, trọng tâm tổ chức lễ hội vẫn thuộc về cộng đồng chủ thể. Các nghi thức vẫn được thực hiện theo hội lệ truyền thống và người dân giữ quyền chủ động trong việc phân công, truyền dạy nghi lễ cũng như duy trì các quy tắc thiêng. Tương tự, Nguyễn Thị Yên (2020), trong nghiên cứu về di sản thờ Mu của người Việt trước đó, đã ghi nhận sự tích cực của các đồng thầy, thủ nhang trong việc duy trì, chủ động quảng bá, kết nối cộng đồng và truyền dạy di sản cho thế hệ kế cận. Họ là những hạt nhân “gương mẫu đi đầu”, giúp lan tỏa di sản. Cộng đồng ở đây là chủ thể trung tâm trong quá trình bảo tồn và phát huy di sản, dù mức độ chủ động của họ có th thay đi tuỳ bối cảnh. Từ Thị Loan (2025) cũng phát biểu tại một hội thảo quốc tế về di sản tại Hà Nội rằng: vai trò của cộng đồng chủ thể ở các di sản như: Hát Xoan, Quan họ Bắc Ninh, Đờn ca tài tử, võ Bình Định hay Múa rối nước không chỉ thể hiện ở sự trao truyền lưu giữ, mà còn ở khả năng sáng tạo, thích ứng, thổi sức sống mới cho di sản. Chẳng hạn, với Quan họ Bắc Ninh, sự nỗ lực của các liền anh, liền chị trong việc bảo tồn lời ca, làn điệu và phong cách hát truyền thống đã giúp thực hành này vượt qua nhiều giai đoạn khó khăn, tưởng chừng đã bị mai một. Còn với Múa rối nước, cộng đng chủ thể không chỉ là người thưởng thức mà còn trực tiếp tham gia sáng tạo, từ việc dựng thuỷ đình, tu sửa con rối, trang phục đến việc sáng tác tích trò mới. Tất cả những ví dụ này cho thấy sức sống bền bỉ và khả năng thích ứng nội tại của di sản khi được cộng đồng nuôi dưỡng.

Xóm Tỉn Keo trước đây thuộc xã Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Từ ngày 01 tháng 07 năm 2025, Tỉn Keo trở thành một trong 24 xóm của xã Phú Đình mới, được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai xã Phú Đình và Điềm Mặc của huyện Định Hoá cũ. Hiện nay, xóm Tỉn Keo có 151 hộ dân với 656 nhân khẩu, là địa bàn cư trú của các dân tộc Tày, Nùng, Sán Chay, Dao và Kinh, trong đó dân tộc Tày chiếm đa số với 111 hộ. Văn hoá Tày là dòng chảy văn hoá chủ đạo. Người dân Tỉn Keo vẫn bảo lưu và thực hành nhiều phong tục, tập quán thể hiện bản sắc dân tộc Tày, như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nghi lễ ma chay, cưới hỏi, mừng đầy tháng, vào nhà mới cùng nhiều tập quán sinh hoạt thường ngày.

anh tin bai

Trong đời sống văn hoá truyền thống của người Tày ở Tỉn Keo, Lồng Tồng từng là một nghi lễ nông nghiệp quan trọng, tương tự như ở các bản làng của người Tày khu vực miền núi phía Bắc nói chung và huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên cũ nói riêng. Theo các nghiên cứu của Vũ Ngọc Khánh (1997), Nông Quốc Chấn (1997), Dương Thị Lê (2010) và Nguyễn Thanh Thuỷ (2020), Lồng Tồng được tổ chức hàng năm với mục đích cầu sức khoẻ, thời tiết thuận lợi, mùa màng không gặp thiên tai, địch hoạ. Theo ghi chép của Dương Thị Lê (2010), tại huyện Định Hoá cũ người dân thường tổ chức lễ hội Lồng Tồng vào tháng Giêng. Các bản ở đây tổ chức luân phiên từ ngày mùng 1 đến ngày 15 của tháng.

Lễ hội Lồng Tồng ở huyện Định Hoá cũ, bao gồm xóm Tỉn Keo, từng có thời gian dài bị gián đoạn. Theo lời kể của các cụ cao niên, lễ hội này chỉ tồn tại đến giai đoạn kháng chiến chống Pháp, sau đó dần mai một vì nhiều nguyên nhân. Đến những năm 1960, thời kỳ miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát động các phong trào xây dựng ”đời sống mới”, “con người mới” ở nông thôn, lễ hội Lồng Tồng bị xếp vào nhóm thực hành mê tín dị đoan, gây lãng phí và vì vậy buộc phải chấm dứt. Phải đến 2002, được chính quyền địa phương tạo điều kiện, lễ hội Lồng Tồng mới được tổ chức trở lại dưới hình thức lễ hội vùng - Lễ hội Lồng Tồng ATK Định Hoá, diễn ra trong hai ngày mùng 9 và mùng 10 tháng Giêng. Lễ hội mới này có sự thay đổi về quy mô, cách thức tổ chức. Trong chương trình Lễ hội, ngoài nghi lễ cầu mùa của người Tày còn có nghi lễ cầu mùa của người Sán Chay và nghi lễ cầu phúc của người Dao. Tại xóm Tỉn Keo, lễ hội Lồng Tồng được khôi phục muộn hơn. Sự kiện lễ hội tổ chức lại ngày 26 tháng 12 năm 2024 là mốc đánh dấu sự trở lại của lễ hội Lồng Tồng sau nhiều thập kỉ bị gián đoạn.

Trong xã hội đương đại, công tác tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống đã có sự thay đổi. Nếu trong truyền thống, lễ hội chủ yếu do cộng đồng dân cư tự tổ chức, quản lý và điều hành dựa trên phong tục, lệ làng và tri thức dân gian thì ngày nay sự tham gia của chính quyền địa phương và cơ quan quản lý văn hoá ngày càng rõ nét. Các hoạt động lễ hội đuợc quy hoạch, chuẩn hoá và lồng ghép với mục tiêu phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh địa phương hay thể hiện sự đoàn kết giữa các dân tộc, thay vì chỉ mang chức năng tín ngưỡng thuần tuý. Việc phân công nhiệm vụ, ban hành quy chế quản lý và đảm bảo an ninh, an toàn đã trở thành một phần tất yếu trong công tác tổ chức lễ hội hiện đại. Quy trình quản lý lễ hội theo hướng quy củ, có sự giám sát của chính quyền địa phương này đã phần nào tác động đến cách thức cộng đồng tham gia lễ hội. Người dân tham gia vào hoạt động lễ hội thông qua hình thức phân công hoặc cử đại diện với số lượng giới hạn. Tại Tỉn Keo, cộng đồng khi tổ chức lễ hội Lồng Tồng cũng phải tuân thủ quy trình quản lý, tổ chức và giám sát của chính quyền. Mọi khâu từ xây dựng kế hoạch, thành lập ban tổ chức, phân công nhiệm vụ đến bảo đảm an ninh an toàn vệ sinh môi trường đều được thực hiện theo quy định. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đó người dân/ cộng đồng chủ thể vẫn chủ động gìn giữ các yếu tố truyền thống, coi đó là cách để lễ hội vừa đáp ứng yêu cầu quản lý, vừa không đánh mất “hồn cốt” văn hoá của mình. Họ chọn những đại diện phù hp để tham gia vào các khâu quan trọng của lễ hội.

Chương trình lễ hội Lồng Tồng tổ chức ở xóm Tỉn Keo ngày 26/12/2024 là hoạt động diễn ra theo Kế hoạch số 3600/KH-SVHTTDL ngày 28/10/2024 của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên cũ. Khi được triển khai, sự kiện này nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân bởi đã nhiều thập kỷ trôi qua lễ hội Lồng Tồng vẫn chưa có điều kiện tổ chức lại. Sau khi họp xóm, Trưởng thôn và đại diện các chi hội đoàn thể như Chi hội phụ nữ, Chi đoàn thanh niên, Chi hội nông dân, Chi hội cựu chiến binh phối hợp cùng cán bộ Chương trình bàn bạc, thống nhất chọn người tham gia và phân công công việc. Kết quả có 29 người thuộc các Chi hội phụ nữ, nông dân và Chi đoàn thanh niên đã được lựa chọn đưa vào danh sách. Họ là những người đại diện cộng đồng, trực tiếp tham gia vào các hoạt động biểu diễn văn nghệ, tham gia chơi trò chơi... Một thầy cúng, người xóm Tỉn Keo đã được mời chuẩn bị/xây dựng kịch bản và thực hiện các nghi thức cúng tế trong ngày hội. Ngoài ra, để việc tổ chức lễ hội được tiến hành họp pháp và đúng quy định, một đại diện của chi hội phụ nữ được phân công hoàn thiện hồ sơ, thủ tục xin phép tổ chức lễ hội. Bên cạnh đó, hai nghệ nhân cao tuổi của xóm Tỉn Keo cũng tham gia vào quá trình tư vấn, dạy cách làm đạo cụ, chơi trò chơi và hát múa dân gian...

Vào ngày hội chính, từ 7 giờ 45 đến 9 giờ sáng đã diễn ra phần nghi lễ xuống đồng. Phần này do thầy cúng đảm nhiệm. Trước đàn tế được dựng bằng tre, phủ vải đỏ, đặt năm ống cắm hương bằng cây ngà và hai cây chuối để nguyên lá kê hai bên, thầy cúng thực hiện các nghi thức thỉnh mời thánh thần, Phật tổ giáng ngự. Sau đó, ông tiến hành các nghi thức diễu phan, đi vòng quanh cây nêu dựng ở phía trước sân khấu rồi di chuyển sang khu vực cánh đồng gần đó để thực hiện các nghi thức tịch điền, hạ điền gồm các hoạt động tượng trưng như gieo hạt, dẫn nước về ruộng, tưới nước cho mạ và rào ruộng (cắm cây nêu đuổi tà ma, chuột bọ). Kết thúc phần lễ, thầy cúng trở lại sân khấu, thực hiện nghi thức hồi hướng và phát lộc - phát hạt giống tượng trưng cho đại diện các hộ gia đình trong xóm.

anh tin bai

Từ 9 giờ đến 11 giờ 15 là phần hội. Phần này bao gồm các tiết mục văn nghệ và trò chơi dân gian. Mở đầu là hoạt động bán ẩm (bày bán các món ăn truyền thống như xôi cẩm, cơm lam, bánh khảo phục vụ khách tham dự). Phần hội được dẫn dắt bởi một nữ MC - người từng có nhiều năm làm việc tại Khu di tích Bác Hồ ở đồi Tỉn Keo. Các tiết mục hát múa được trình diễn trong phần hội gồm: Lập xuân, Đưa nước về ruộng và Hội làng. Trong các tiết mục này, các đại diện nam nữ của xóm Tỉn Keo, hoá thân thành các “diễn viên” duyên dáng, mang đến sác màu sinh động cho sân khấu lễ hội. Sau phần văn nghệ, các đại biểu, khách mi và người dân có mặt cùng tham gia vào hàng loạt trò chơi dân gian. Mở đầu là tung còn. Một cặp nam nữ thanh niên của xóm Tỉn Keo được giao nhiệm vụ “khai còn”, tức tung hai quả còn đầu tiên. Sau phần nghi thức này, nữ MC mời đại diện đại biểu, khách mời và người dân tham gia. Trò chơi tung còn kết thúc sau khi một người chơi tung trúng vòng tròn đồng tâm và người này được nhận thưởng là mâm lễ có xôi gà. Không khí phần hội được khuấy động với các trò bịt mắt, đập mõ, đẩy gập, bịt mắt bắt vịt, kéo co và đi cà kheo.

Đến 11 giờ 30, nữ MC kết thúc thay mặt Ban tổ chức lễ hội mời các đại biểu, khách mời cùng đại diện các hộ gia đình trong xóm Tỉn Keo dự ẩm thực khao làng tại Nhà văn hoá. Nhiều món ăn đặc sắc của địa phương được chuẩn bị như: Thịt lợn luộc, thịt gà luộc, nộm bi chuối, rau rừng, xôi nếp cẩm và rượu gạo. Tất cả các món ăn này được bày biện gọn gàng và đẹp mắt, đặt trên những dãy bàn phủ lá chuối xanh.

Nhìn vào công tác chuẩn bị và diễn biến của Chương trình phục dựng, tái hiện lễ hội Lồng Tồng tại xóm Tỉn Keo, có thể nhận thấy phần nào những đóng góp của cộng đồng trong việc đưa lễ hội trở lại. Những đại diện trực tiếp tham gia vào các hoạt động văn nghệ trên sân khấu lễ hội đã góp phần tái hiện nhiều thực hành văn hoá truyền thống của dân tộc Tày, thể hiện từ trang phục, lời hát, điệu múa, thực hành lễ nghi cho đến đạo cụ, vật phẩm văn hoá được trưng bày/sử dụng trong không gian lễ hội. Trong bối cảnh công tác tổ chức và quản lý lễ hội đã khác trước - mọi hoạt động đều phải tuân theo quy trình, kế hoạch và sự phê duyệt của cơ quan quản lý, vai trò của cá nhân đại diện trong cộng đồng tham gia vào lễ hội trở nên đặc biệt quan trọng chẳng hạn, trong trường hợp của Thầy cúng.  Ổng là người kết nối giữa cộng đồng và chính quyền, vừa là người đảm bảo tính xác thực văn hoá của lễ hội, giúp cho lễ hội vừa được phục dựng một cách vừa đúng quy định vừa giữ được “hồn cốt” truyền thống. Những đóng góp của ông đã giúp cho tiếng nói của cộng đồng được thể hiện trong lễ hội dù rằng cách quản lý và vận hành của lễ hội hiện nay đã khác xưa.

Thầy cúng, khi được Trưởng xóm giao nhiệm vụ xây dựng kịch bản nghi lễ cho Chương phục dựng, tái hiện lễ hội, đã tự nhủ “phải làm”. Ông coi đó như một bổn phận với tổ tiên và trách nhiệm với cộng đồng nơi ông gắn bó. Khi xây dựng kịch bản nghi lễ ông vận dụng kết hợp giữa tri thức truyền thống và hiện đại; vận dụng tối đa vốn hiểu biết để lựa chọn đưa vào kịch bản các thực hành phù hợp/không trái với chuẩn mực của xã hội hiện đại. Theo ông, một kịch bản nghi lễ chỉ thực sự có giá trị khi được xây dựng trên cơ sở phối hợp hài hoà giữa hai yếu tố ấy - truyền thống và hiện đại.

Như đã được ghi nhận trong các công trình nghiên cứu của Vũ Ngọc Khánh (1997) hay Dương Thị Lê (2010), trong một lễ hội Lồng Tồng, phần lễ luôn là phần được chú trọng nhất. Để tiến hành, thầy cúng lập đàn tế tại khu ruộng được chọn – không gian chính của lễ hội. Cả bản cùng chung tay chuẩn bị một mâm lễ gồm gạo tẻ, xôi nếp, gà trống, thủ lợn luộc, rượu gạo và các loại bánh truyền thống. Ngoài mâm lễ chung này, mỗi gia đình còn có thể dâng một mâm lễ riêng - không quan trọng lễ to hay nhỏ, chỉ cần thể hiện lòng thành. Ở các lễ hội Lồng Tồng trước đây, phần lễ thường bắt đầu bằng nghi thức rước thần từ đình hoặc miếu ra khu ruộng - không gian chính của lễ hội. Sau đó, thầy cúng tiến hành các nghi thức cúng tế, kéo dài trọn một buổi sáng.

Tại buổi lễ Lồng Tồng ở xóm Tỉn Keo toàn bộ nội dung phần lễ chỉ diễn ra trong 1 giờ 15 phút. Thầy cúng đảm nhiệm cho rằng rút ngắn thời gian là một quyết định không hề dễ dàng song cần thiết. Ông cho biết: với Chương trình lễ hội chỉ diễn ra trong vòng một buổi sáng, rút ngắn thời gian là để đảm bảo cân đối giữa phần lễ và phần hội. Ông chủ trương chắt lọc, chỉ giữ lại những khoa cúng mà ông tin rằng nếu bỏ đi sẽ giảm ý nghĩa thiêng liêng của nghi lễ. Ví dụ, trong cuốn sách cổ mà ông sử dụng, phần thỉnh Phật có tới ba khoa nhung ông chỉ chọn một. Tương tự, khi thỉnh Ngọc Hoàng, thay vì thực hiện toàn bộ các khoa như sách ghi, ông chọn khoa thỉnh quan Hành khiển - người được xem là đại diện cho Ngọc Hoàng xuống chứng giám. Tuy nhiên, đối với các vị thần sở tại, được thờ cúng ở xóm Tỉn Keo ông chọn giữ nguyên, không lược bỏ bất cứ khoa cúng nào.

Ngoài rút ngắn thời lượng nghi lễ, thầy cúng đặc biệt chú ý đến sự phù hp của các từ ngữ sử dụng trong các khoa cúng. Thầy cúng cho biết: Chương trình lễ hội Lồng Tồng ở xóm Tỉn Keo, ngoài người dân trong xóm còn có nhiều đối tượng khác gồm: khách mời và đại diện chính quyền. Do đó, sử dụng từ ngữ đúng chuẩn mực là cần thiết nhằm tránh bị người khác phán xét. Theo tiêu chí do chính ông đặt ra, từ ngữ sử dụng trong lời cúng phải dễ hiểu và phù hợp với nhiều đối tượng (người dân và quan khách) tham dự.

Tương tự, trong phần biện lễ, thầy cúng đặc biệt cân nhắc và thận trọng nhằm đảm bảo phù hp với không gian của lễ hội hiện đại. Khi lựa chọn đồ lễ dâng ở đàn tế và đặt tại chân cây nêu, ông thực hiện theo nguyên tắc - “xấu bỏ ra, tốt đưa vào”. Chẳng hạn, trong sách hướng dẫn nghi lễ cổ, danh mục vật phm cần có để dâng cúng gồm ngựa giấy, tiền âm dương, rượu, thịt lợn/thịt gà luộc/thủ lợn sống hoặc nguyên con lợn/dê m ngay tại chỗ, lấy máu đặt lên đàn tế. Tuy nhiên, với sự kiện lễ hội của Tỉn Keo, để tránh nghi thức “hiến sinh có yếu tố bạo lực” trong lễ hội, thầy cúng đã chọn dâng cúng thủ lợn. Lựa chọn này được tin là an toàn, cho phép giữ được đúng tinh thần nghi lễ và hạn chế rủi ro bị đánh giá tiêu cực.

*

*     *

Trường hp lễ hội Lồng Tồng ở xóm Tỉn Keo, xã Phú Đình, tỉnh Thái Nguyên cho thấy, vai trò của cộng đồng vẫn tiếp tục duy trì và phát huy trong điều kiện quản lý và tổ chức lễ hội đã có nhiều thay đổi. Như kết quả nghiên cứu chỉ ra, thông qua các cá nhân đại diện của mình cộng đồng đã góp phần làm hồi sinh lễ hội theo hướng phù hợp và có thể được chấp nhận trong điều kiện, bối cảnh xã hội đương đại. Trường hợp lễ hội Lồng Tồng trong bài viết này cho thấy vai trò của cộng đồng chủ thể không chỉ nằm ở việc truyền dạy, lưu giữ, sáng tạo hay làm phong phú thêm các yếu tố mới cho di sản như các nghiên cứu trước đó đã đề cập, mà còn ở chỗ họ còn góp phần diễn giải lại di sản vừa đúng quy định vừa đảm bảo giữ được hồn cốt truyền thống. Cộng đồng chủ thể thông qua các đại diện của mình đã đem lại một sức sống mới cho di sản./.

Bài viết đầy đủ có tại: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, Số 5 (221), 2025

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2015), Công văn số 2662/BVHTTDL-VHCS ngày 08 tháng 8 năm 2015 về việc tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội.

Hoàng Cầm (2018), “The Space of Gong Culture: Tourism, Selective Safeguarding Measures and Politics of Heritage in Vietnam”, tham luận tại Hội thảo thường niên của Hội Nghiên cứu châu Á của Mỹ, tổ chức tại Washington, D.C.

Nguyễn Thị Phương Châm (2018), “The Dynamics of Power and Contestation in the Implementation of the Safeguarding Measures of Xoan Singing in Phu Tho after Its UNESCO’s Inscription”, Vietnam Social Sciences Review, Vol. 4(186), tr. 32–47.

Nông Quốc Chấn (1997), “Hội Lồng Tồng của người Tày, Nùng”, trong Văn hoá các dân tộc số, Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam, Hà Nội.

Nguyễn Thị Hiền (2025), “Từ diễn ngôn di sản được uỷ quyền đến chính trị di sản từ dưới lên: Những thách thức lí luận và thực tiễn bảo vệ văn hoá phi vật thể ở Việt Nam”, tham luận tại Hội thảo quốc tế Vấn đề bảo vệ và phát huy di sản văn hoá phi vật thể, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam tổ chức tại Hà Nội.

Vũ Ngọc Khánh (chủ biên) (1997), Văn hoá tín ngưỡng Tày – Nùng, bản đánh máy lưu Thư viện Viện Nghiên cứu Văn hoá, ký hiệu KH.66.

Dương Thị Lê (2010), Lễ hội Lồng Tông của người Tày ở huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên (Truyền thống và biến đổi), Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

Từ Thị Loan (2025), “Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy văn hoá phi vật thể”, tham luận tại Hội thảo quốc tế Vấn đề bảo vệ và phát huy di sản văn hoá phi vật thể, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam tổ chức tại Hà Nội.

Luật Di sản văn hoá năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

Luật Di sản văn hoá năm 2024, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

Lê Hồng Lý (2014), “Thách thức bảo tồn tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ theo Công ước 2003”, trong Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: 10 năm thực hiện Công ước bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể của UNESCO – Bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai, Nxb. Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội.

Salemink, Oscar (2012), “Di sản hoá văn hoá ở Việt Nam: Di sản văn hoá phi vật thể giữa các cộng đồng, Nhà nước và thị trường”, trong Việt Nam học – Kỉ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ tư, Tập III, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Nguyễn Thanh Thuỷ (2020), “Biến đổi văn hoá phi vật thể của người Tày ở huyện Định Hoá, Thái Nguyên”, Tạp chí Dân tộc và Thời đại, số 215.

Nguyễn Thị Yên (2020), Thực hành tín ngưỡng Tứ phủ của người Việt từ sau vinh danh, đề tài cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Văn hoá, Hà Nội.

Nguồn bài viết: TS. Đoàn Thị Tuyến
Viện Hàn Lâm Khoa Học Việt Nam
Thư viện ảnh
image advertisement