Làng Kim Lũy ở Nghệ An với việc khôi phục các ngôi đền và các vị thần sau Đổi Mới
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Làng Kim Lũy ở Nghệ An với ba ngôi đền và các vị thần được thờ phụng trở lại” của TS. Chu Xuân Giao (Viện Nghiên cứu Văn hóa).

Từ Đổi Mới đến nay, ở làng xã
trên toàn quốc có trào lưu khôi phục việc thờ phụng các vị thần. Bên cạnh việc
trùng tu tôn tạo cơ sở thờ tự, có nhiều làng xã phải mất rất nhiều công sức để
đi tìm lại lai lịch của các vị thần. Về trào lưu khôi phục việc thờ phụng các vị thẩn làng
xã ở thập niên 1990, có thể thấy tường tận trong các nghiên cứu in ngay trong
thập niên 1990 của nhà dân tộc học Nhật Bản Suenari Michio với trung tâm là điều
tra điền dã dài hạn (khoảng 10 năm) tại làng Triều Khúc ở ngoại thành Hà Nội. Một
nội dung lớn trong trào lưu này, được Suenari chỉ ra là: việc trùng tu tôn tạo
lại các cơ sở thờ tự - vốn đã bị bỏ hoang hay không được thờ phụng một cách
chính qui suốt một thời gian dài - trong các làng xã từ đầu thập niên 1990.
Theo chúng tôi, có hai hình ảnh tiêu biểu sau mà Suenari nêu ra từ thực tế ở
làng Triều Khúc (xem Suenari 1996,1997, 1998), để chúng ta có thể hình dung về
trào lưu khôi phục việc phụng thờ các vị thẩn làng xã.
Một là, dưới sự chỉ đạo và giám sát của cộng đồng làng
Triều Khúc, thanh niên trong làng đã trục vớt thành công các bia đá ở dưới cái
ao trước mặt ngôi đình gọi là đình sắc (thường gọi là ao đình) để đưa trở lại các di tích. Nếu tấm
bia nào bị vỡ thì sẽ gắn lại cẩn thận rồi mới dựng
lên, tấm bia nào lành lặn thì không phải gia công gì nhiều. Các tấm bia này vốn
đã được quẳng xuống ao đình trong thời kì chống mê tín dị đoan, và thật may mắn
là do nằm ở dưới ao nên vẫn còn tìm lại được. Giả sử các tấm bia ấy không được
ai đó “nhanh trí” cho quẳng xuống ao đình, thì có thể đã bị đem nung vôi
hay trở thành các vật dụng (đập lúa, cầu ao, vật kê,...).
Hai là, trước mỗi dịp hội làng được tổ chức sau Đổi Mới,
dân làng Triều Khúc sẽ cử đoàn đại diện đi về xã Đường Lâm để lễ đức vua Phùng
Hưng tại quê hương của ngài, rồi lại mời đại diện của Đường
Lâm xuống dự hội làng Triều Khúc. Anh hùng giải phóng dân tộc Phùng Hưng được
làng Triều Khúc thờ làm thành hoàng, nhưng do cả một thời gian dài chống mê
tín, mà việc giao hiếu giữa Triều Khúc với Đường Lâm bị gián đoạn. Hai làng chỉ
bắt đầu được nối lại quan hệ từ đầu thập niên 1990.
Hình ảnh vớt bia đá từ ao lên thì nói về việc bản thân
các cơ sở thờ tự trong phạm vi làng xã đang được khôi phục. Còn hình ảnh sau thì nói lên mạng lưới
quan hệ truyền thống giữa các làng xã, thông qua thực hành văn hóa tín ngưỡng,
cũng đang dần được khôi phục. Hai hình ảnh
tiêu biểu cho sự phục hồi của tín ngưỡng dân gian đó, cũng có thể thấy trong
các nghiên cứu về làng xã Việt Nam trong khoảng những năm1990-2000 của
các tác giả khác, như: Malarney Shaun (1997, 2002) ở làng Thịnh Liệt
(Hà Nội); Chu Xuân Giao (1996) ở làng Đại Yên (Hà Nội); nhóm Lê Hồng Lý (1998-2000) ở làng Đồng Kỵ (Hà Nội); nhóm Nakanishi
(2000) ở làng Phủ Đồng (Hà Nội),...
Trong bối cảnh như vậy ở cuối thế kỉ XX và các thập niên đầu thế kỉ XXI,
có không ít
làng đã và đang đi tìm lại lai lịch của các vị thần, là bởi
vì: muốn trùng tu tôn tạo lại di tích (trường hợp bị hư hại một phần) hay muốn dựng mới lại di tích (trường hợp đã bị phá hủy
hoàn toàn) thì đầu tiên phải biết được di tích cũ vốn thờ vị thần nào, mà do mấy chục năm liền bỏ hoang hay không thờ phụng
một cách chính qui nên người ta không còn biết đích xác về các vị thần nữa.
Trường hợp làng Kim Lũy ở Nghệ An trong nghiên cứu này thì
là câu chuyện của
một làng từ đầu thập niên 1990 đến năm 2019,
trong khoảng gần 30 năm, đi tìm lại lai lịch của
vị thần chính trong nhóm các vị thần của
làng. Thú vị là, làng Kim Lũy đến nay vẫn bảo quản được 18 đạo sắc phong cho
các vị thần, có niên đại từ Cảnh Hưng 28
(1767) đến năm Khải Định 9 (1924), nhưng lại không còn thần tích (thần tích cũng
không tìm được ở các kho lưu trữ), dân làng cũng đã quên hầu như hoàn toàn, cho nên một thời gian dài đã không biết tên gọi
cụ thể của
thần, không biết lai lịch của thần ra sao. Có nhiều hướng truy tìm đã được đặt ra, nhiều cuộc khảo sát
theo các hướng đó đã được thực hiện, và đến năm 2019, thì tìm được lai lịch của
vị thần chính, mà bắt nguồn từ việc Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An phát hiện lại tập hồ sơ kiểm kê di tích thực hiện năm 1964 đã cho thông tin trùng khớp với kết
quả điều tra của nhóm thực hiện trong các năm 2011-2019. Tập tư liệu năm 1964
(ghi chép lời kể trực tiếp về các vị thần làng ở thời điểm đó) được tìm thấy vào khoảng năm 2018, đã mang ý nghĩa quyết định đến
kết quả tìm kiếm.
Kim Lũy một ngôi làng độc đáo
Xã Diễn Kim (làng Kim Lũy trước đây) nằm ở phía Bắc huyện
Diễn Châu, cách thị trấn huyện khoảng 6 km. ở thời điểm năm 2016, diện tích đất
tự nhiên là hơn 700ha (trong đó có gần
200 ha là diện tích canh tác), có hơn 2000 hộ (gần 10 ngàn
nhân khẩu)(1).
Diễn Kim là vùng đồng bằng xen kẽ nhiều cồn mô (mô Cận
Trên, mô Cận Dưới, cồn Tống,...) nằm trải dài ven biển ở phía Đông, lại được
bao bọc bởi các sông hay kênh nước ở ba mặt còn lại (Tây, Nam, Bắc), nên trước
đây xã tựa như bị chia cắt với các làng xã ở xung quanh. Bởi sự chia cắt về địa
thế tựa như một ốc đảo như vậy, nên người dân trong xã muốn đi ra các làng xã
xung quanh thì phải sử dụng đò (xem Hình 1).

Trích đoạn về Kim Lũy trong bản đồ của bộ sách Đồng
Khánh dư địa chí (cuối thời Nguyễn), cho thấy rõ địa thế bốn bề được bao bọc bởi
nước (phía Đông là Biển Đông, các phía Tây - Nam - Bắc thì đều là sông ngòi).
Cuộc sống thường nhật gắn bó với biển và nhiều sông vây quanh, gắn bó với các bến đò, là một nét rất riêng của Diễn Kim so với các làng xã ở xung quanh. Sau này, từ khoảng
thập niên 1960 trở đi, các bến đò dần được thay bằng cầu. Ngày nay, các cây cầu hiện đại bắc qua các sông và kênh làm cho
Diễn Kim tiện lợi về giao thông (xem
Hình 2). Lớp người tuổi trẻ sinh đầu thế kỉ XXI hầu như không còn biết về quá khứ "ốc đảo" của làng mình.

Diễn
Kim trước ngày 1/7/2025 với cầu Diễn Kim danh tiếng và nhiều tuyến đường bộ hiện
đại, rất tiện lợi về giao thông. Đây là trích đoạn về xã Diễn Kim trong "Bản
đồ qui hoạch sử dụng đất đến năm 2030 - huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An" do
Công ty Cổ phần tập đoàn Đất Việt thực hiện vào năm 2021.
Với địa hình địa thế như trên, sinh kế của người dân trước
đây là canh tác nông nghiệp (lúa nước, hoa màu), kết hợp với trồng dâu nuôi tằm, làm muối và đi biển.
Nghề chính là làm ruộng, thì ruộng đất ở Diễn Kim ít về
diện tích lại kém màu mỡ, dù một năm có hai vụ lúa (thu hoạch vào tháng Năm và
tháng Mười), nhưng thường xuyên đối mặt với thời tiết khắc nghiệt, nên
"năng suất cây trồng rất thấp, mùa vụ bấp bênh. “Trước đây, người làm ruộng ở Diễn Kim chưa bao giờ tự túc
được lương thực cho gia đình” (Đảng ủy, 2016:10).
Nghề đi biển thì có chính vụ vào các tháng Giêng, Hai,
Sáu, Chín, Mười. “Phương tiện đánh bắt bằng nghề lưới
bén: lưới được đan bằng vỏ cây gai, nhuộm bằng nước củ nâu, hai
người đi chung một bè mét từ 6 đến 8 cây. Ngoài nghề lưới bén, có nghề trũ kheo, trũ chân, câu ốc cũng không kém phần quan trọng. Một số gia đình
khá giả hơn thì dọn lưới quàng, lưới chồng. Những hôm mưa thuận gió hòa, nghề đi biển cũng đem lại sản lượng
đáng kể cho ngư dân vùng biển Diễn Kim. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nghề
đi biển ở Diễn Kim mới
phát triển mạnh,
như: gò trích, xăm vây, lưới rê, lưới tôm, chống trích,... Bè mét được thay bằng
thuyền gỗ, chạy buồm được thay bằng chạy máy, đánh bắt xa bờ và hợp tác hóa
ngưnghiệp" (Đảng ủy, 2016: 10-11).
Về kết cấu dòng họ, thì hiện xã có 26 dòng họ, qua tìm hiểu
gia phả của dòng họ thì thấy "phần lớn các dòng họ của Diễn Kim
từ nơi khác đến sinh cơ lập nghiệp. Họ đến sớm
nhất cũng từ 15-16 đời, muộn nhất 8-10 đời. Trong đó những
dòng họ đến
lập nghiệp sớm
nhất là: họ Ngô, họ Đinh, họ Nguyễn, họ Hồ, họ Bùi Văn, họ Trương, họ Vũ, họ
Hoàng, họ Phạm, họ Trần,...” (Đảng ủy, 2016:18).
Ba thế hệ nhà văn xuất thân từ làng Kim Lũy nối tiếp đi tìm
lai lịch các vị thần
Đáng chú ý các dòng họ tiêu biểu ở Diễn Kim đã làm nên điều
đặc biệt, là sản sinh liên tiếp ra ba thế hệ nhà văn ở thế kỉ XX và XXI. Họ xuất
thân từ làng Kim Lũy rồi sau này đi thoát li, rồi ở lại Hà Nội, trở thành người
Kim Lũy sinh sống ở Hà Nội. Sau Đổi Mới, ba thế hệ nhà văn này tiếp nối nhau đi
tìm lai lịch các vị thần của làng mình thông qua một tổ
chức dân sự là Ban Liên lạc đồng hương xã Diễn Kim tại Hà Nội.
Ban Liên lạc đồng hương xã Diễn Kim tại Hà Nội
(từ đây viết tắt là BLL và Ban Liên lạc) được thành lập vào khoảng giữa thập
niên 1990 bởi một nhóm nhân sự nhỏ (gồm nhà văn Sơn Tùng, nhà văn Thanh Châu,
ông Nguyễn Trọng Thể, ông Phạm Trào(2). Nhà văn Sơn Tùng là Trưởng Ban đầu tiên. Từ ý tưởng lớn của nhà văn Sơn Tùng, BLL với các
đời Trưởng Ban kế tiếp đều xem việc tham gia vào công cuộc khôi phục các ngôi đền
ở quê nhà là một nhiệm vụ trọng tâm. BLL giữ quan hệ mật thiết với chính quyền
địa phương, cùng chính quyền địa phương lo liệu công việc khôi phục lại các
ngôi đền, trong đó có một nội dung quan trọng là tìm lại lai lịch của các vị thần.
Về 3 thế hệ nhà văn của làng Kim Lũy, thì đầu tiên là nhà văn Thanh Châu (1912-2007), tên thật là là Ngô Hoan (Đảng ủỵ, 2016: 13; Thiên Sơn, 2022). Thanh Châu là nhà văn tiền chiến, là cây bút truyện ngắn
chủ lực của tờ Tiểu
thuyết Thứ Bảy danh tiếng trước năm 1945. Văn Tâm có nhận định rằng,
"truyện của ông thường chứa đựng những yếu tố tinh thần khả thủ: tâm trạng
xót xa trước kiếp người bất hạnh, thái độ tán thành đức hy sinh, lòng chung thủy,
sự trân trọng đối với những tình cảm trong sáng - trong sáng như mối tình đầu",
và "tình tứ mơ màng buồn thương trong tác phẩm của ông kích thích cảm hứng sáng tạo nghệ thuật" (Văn Tâm 2004: 1632). Đặc biệt, truyện ngắn
"Hoa ti gôn" đã xuất bản năm 1937 trên Tiểu thuyết Thứ Bảy “đã khơi dậy men thơ cho T.T.Kh
sáng tác bài thơ nổi tiếng Hai sắc hoa ti gôn" (Văn Tâm 2004: 1632).
Dòng họ Bùi thì có nhà văn Sơn Tùng (1928-2021), "là
người đầu tiên thi đậu đại học"của
Diễn Kim sau Cách mạng Tháng Tám (Đảng ủy, 2016: 13). Theo nhận định của Nguyễn Thế Kỷ, nhà văn "Sơn
Tùng để lại một di sản văn chương đồ sộ đáng tự hào với hàng chục
tác phẩm, trong đó có 21 tác phẩm tiêu biểu. Tiểu thuyết Búp sen xanh là tác phẩm tiêu biểu nhất,
thành công nhất (Nguyễn Thế Kỷ, 2021). Sơn Tùng chuyên viết về Hồ Chủ tịch và danh nhân cách mạng, đồng là nhà văn đầu tiên được nhà nước phong Anh
hùng Lao động (năm 2011).
Dòng họ Nguyễn thì có nhà văn Thiên Sơn (sinh năm 1972) -
tên thật là Nguyễn Xuân Hoàng - là một cây bút đang ở độ chín với sức viết sung
mãn, mà có tiếng vang gần đây nhất là bộ tiểu thuyết Đại gia (hai tập,
2013) và bộ tiểu thuyết lịch sử Gió bụi đầy trời (2021).
Đặc biệt đáng chú ý là, nhà văn Sơn Tùng và nhà văn Thiên
Sơn lại có quan hệ thân tộc. Bản thân câu chuyện về các vị thần của làng Kim Lũy cũng được hai nhà văn này quan tâm nhất.
Riêng nhà văn Sơn Tùng thì từ năm 1992 đã nhận bàn giao 18 đạo sắc phong của
làng - được một người làng mang ra từ quê, gửi nhà văn, để sau đó đi Tây Nguyên
làm kinh tế mới. Từ manh mối 18 đạo sắc phong này, các nhà văn của làng Kim Lũy
đã bắt đầu hành trình tới hơn 30 năm, đến tận năm 2019 mới có được kết quả: tìm
được lai lịch của vị thần chính được thờ tại Đền Trang -
là "Tứ Dương hầu Đô Thái úy Thành Quốc
công" với tên thực là Phạm Tử Nghi (hay Pham Thành), một danh tướng thời Mạc.
Hiện nay, Đền Trang thờ Phạm Tử Nghi là vị thần chính, đồng
thời còn phối thờ các vị thần của Đền Cả và Đền Cá Ông.
Ba ngôi đền của làng Kim Lũy và các vị thần
Nhà văn Sơn Tùng, qua một lời bạt (viết tháng 10 năm 2008(3)) mang tựa đề "Thay lời bạt
của tác phẩm Thiên Sơn" cho tập thơ Lá thay mùa Thiên Sơn (Sơn Tùng, 2008: 76-80), có viết về các vị thần của làng mình như sau (tôi
tóm tắt thành - điểm; chỗ nào là nguyên văn thì sẽ đưa vào ngoặc kép).
Một là, làng Kim Lũy (xưa là Hoa Lũy, xưa nữa là trang Kim Hoa) có 3 ngôi đền thờ
thần nguy nga và 1 ngôi đình trung đồ sộ (Sơn Tùng 2008: 76). Trong mường tượng về quá khứ của nhà
văn, thì "làng Hoa nguy nga đền đài, phong cảnh hữu tình, trù phú, cổ thụ
ngàn tuổi". Thế nhưng, hiện thực trước mắt thì lại trái ngược hoàn toàn,
là "ngày nay, một viên gạch nền đền, một long đỉnh, một cán lọng,... không
còn. Các đấng Huyền Thần, Nhân Thẩn làng Hoa bơ vơ, lạnh
tanh hương khói" (Sơn Tùng, 2008: 78).
Hai là, trước hiện thực làng mình đã không còn đền và đình nữa, tất cả đã bị phá hủy
hoàn toàn, các vị thần thì bơ vơ không được hương
khói, nhà văn ao ước: "tôi hằng mong mỏi - một ngày nào ở đất Diễn Kim hiện lên ngôi đền để được rước 18 sắc
phong về !" (Sơn Tùng, 2008: 80)V về nhóm sắc phong của làng mình, nhà văn viết: "May
thay! Thần đền làng Hoa Lũy có 42 sắc
phong, từ thời Lý Thái Tổ đến thời nhà Nguyễn, vua Khải Định. Hiện nay, tôi còn
giữ 18 đạo sắc, từ thời Cảnh Hưng, vua Lê Hiển Tông đến vua Khải Định" (Sơn Tùng, 2008: 78). Về 18 đạo sắc phong của làng Kim Lũy thì tôi sẽ đề cập
sau, nhưng đúng là ở thời điểm năm 2008 thì nhóm sắc phong này đang được bảo quản
tại nhà riêng của nhà văn Sơn Tùng (tại
ngõ Văn Chương - Khâm Thiên - Hà Nội).

Lược
đồ về vị trí 3 ngôi đền và 1 ngôi đình của xã Diễn Kim trước năm 1945 (vẽ trên
nền bản đồ hiện nay cắt ra từ Google Maps). Hiện chỉ còn Đền Cá Ông (nhỏ bé) và
Đền Trang mới được khôi phục vào đầu thập niên 2010s (sau khi nhận lại khuôn
viên cũ đã bị xây nghĩa trang liệt sĩ trong nhiều năm). Đình làng và Đền Cả đã
bị hạ giải từ lâu.
Ba là, về các vị thẩn của 3 ngôi đền trước đây (đền Cả, đền Trang, đền Cá Ông, xem Hình 3), thì nhà văn đưa quan điểm như sau: 1). Đền Cả (ở
"thôn Trong" cũng gọi "thôn Trên", là vị trí cư trú quần tụ trước đây của làng Kim Lũy) thì thờ vị thần thời Lý Nam Đế (Lý Bí), có thể là Phạm Tu hay Triệu Quang Phục. Làng Diễn Hải ở bên cạnh thì thờ
Triệu Quang Phục, nên có thể Đền Cả làng Kim Lũy thờ Phạm Tu; 2). Đền Trang (ở
thôn Trang) thờ thần thời Lam Sơn của Bình Định
Vương Lê Lợi; 3). Đền Cá Ông, cũng gọi đền ông, tọa vị trước
cửa biển của làng, thờ thần Cá Voi. Các vị thần trên (tại Đền Cả, Đền Trang, Đền Cá Ông) đều có sắc phong - nằm trong
nhóm 18 sắc phong mà nhà văn Sơn Tùng lúc đó đang bảo quản tại Hà Nội.
Về Đền Cả thì nhà văn Sơn Tùng không dẫn tư liêu sắc phong. Việc đền đó "thờ thần thời Lý Nam Đế (Lý Bôn) quốc hiệu Vạn Xuân" là suy
đoán của bản thân nhà văn mà thôi. Còn thực tế thì, sắc phong cho Đền Cả chỉ
ghi là "Bản thổ linh quan" hoặc "Bản thổ hiệu Quản Đông Bắc linh
quan" hoặc "linh quan" mà không cho biết cụ thể vị thần nào. Có
thể thấy, nhà văn Sơn Tùng đã suy đoán "bản thổ linh quan" là một vị
thần thời Lý Nam Đế.
Về Đền Trang, nhà văn Sơn Tùng có dẫn tư liệu sắc phong
mang niên đại Cảnh Hưng 44 (1783), trong đó ghi tên thần là "Đô Thái úy
Thành Quốc công". Đồng thời, ông viết: "Đền này thờ thần thời Lam Sơn - Bình Định vương "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần",
kháng chiến chống giặc Minh xâm lược". Có thể thấy, nhà văn Sơn Tùng đã cho rằng "Đô Thái úy Thành Quốc công" là một nhân vật
thời kháng chiến chống Minh của Lê Lợi. Còn thực tế thì, sắc phong cho Đền
Trang, có sắc ghi "Đô Thái úy Thành Quốc công" (Cảnh Hưng 44), hoặc
"Tứ Dương Thành Quốc" (Tự Đức 6), hoặc "Tứ Dương Thành Quốc công" (Duy Tân
3), hoặc "Tứ Dương hầu Thành Quốc công"(Khải Định
9). Năm 2019, qua
đối chiếu tư liệu các nguồn, chúng tôi (tôi và nhà văn Thiên Sơn) xác định rằng Phạm Tử Nghi (tức Phạm Thành)
là một danh tường thời Mạc.
Về Đền Cá Ông, nhà văn Sơn Tùng có dẫn tư liệu sắc phong
mang niên đại Khải Định 2 (1917), mà thần hiệu ghi trên đó là
"Đông Hải thái thú Đại Ngư ông". Trên thực tế, còn có sắc
phong Khải Định 9 (1924) cũng ghi thần hiệu là "Đông Hải thái
thú Đại Ngư ông". Thần hiệu này
đã cho biết rõ vị thần của đền là Đại Ngư ông, tức Cá Ông (cá voi).
Bốn là, về đình làng, nhà văn Sơn Tùng miêu tả như sau: "Ở
trung tâm ba trục đường liên hương giao điểm trước bến Bầu Giang (sông
Trái Bầu) và rừng đước, sú, vẹt bạt ngàn" (Sơn Tùng, 2008: 78).Tài liệu địa phương cũng ghi:
"Đình làng xây dựng tam tòa, bên cạnh đình còn xây một nhà ngang. Xung
quanh đình là những hàng cây sộp to, cành lá um tùm xanh tốt. Trước đình là một
dãy phượng, đến tháng 3 âm lịch, hoa phượng nở đỏ rực, soi bóng xuống dòng
sông, lung linh cùng ánh trăng rằm, ngày hội như một con rồng lửa. Mỗi năm có
hai kì đại tế: du xuân ngày 22 tháng Giêng; đại điển vào ngày 15 tháng Ba âm lịch” (Đảng ủy, 2016: 14). Theo kết quả phỏng vấn hồi cố của người viết bài này, vào
năm 2010, tại địa phương, thì được biết: đình làng là nơi hội họp của dân làng
Kim Lũy, và là nơi tổ chức hội làng. Khi hội làng, người
ta sẽ rước các vị thần từ 3 ngôi đền về đình làng (rước bài vị và sắc phong).
Khi kết thúc hội, người ta lại rước các vị thần về lại 3 ngôi đền.
Tựu trung lại, trước năm 1945, làng Kim Lũy có 1 đình và
3 ngôi đền. Đình làng có chức năng như văn phòng hành chính của làng, là nơi hội
họp, đồng thời cũng là nơi tổ chức hội làng. Các vị thần chỉ được rước về đình làng trong các dịp tổ chức hội,
còn bình thường thì họ ngự tại 3 ngôi đền: Đền Cả, Đền Trang, Đền Cá Ông. Tại 3 ngôi đền, có bài vị và tượng của các vị thần, đặc biệt là có các đạo sắc phong của các triều đại
quân chủ (Đền Cả có sắc phong thời Lê và thời Nguyễn; Đền Trang có sắc phong thời
Lê và thời Nguyễn; Đền Cá Ông thì chỉ có sắc phong thời Nguyễn).
Sau năm 1945, đình làng và 3 ngôi đền đều đã bị hư hại.
Đình làng đã bị tháo dỡ lần cuối vào thập niên 1970, rồi con sông chạy trước mặt đình cũng trở thành ruộng cấy
lúa và thành nhà dân, bản thân khuôn viên đình cũng đã thành nhà dân (hiện nay
hoàn toàn mất dấu trên thực địa). 3 ngôi đền (Đền Cả, Đền Trang, Đền Cá Ông) cũng bị dỡ bỏ dần, việc thờ tự cũng bị bỏ từ
sau năm 1945. Sắc phong của 3 ngôi đền được tập hợp lại một chỗ, vốn được giữ
trong nhà truyền thống của xã Diễn Kim. Nhà truyền thống của xã Diễn Kim được
xây ở gần Đền Trang trước đây, đến năm
1972 thì nhà đó bị bom Mĩ dội vào, nên hiện vật được sơ tán đi các nơi khác. Sắc
phong của 3 ngôi đền được cất trong 2 ống đồng nên vẫn giữ được, nhưng được gửi
về nhà thờ họ Bùi ở
gần đó. Đến đầu năm 1992, một người của dòng
họ Bùi, là ông Bùi Huy Du, đã cùng vợ đi từ quê ra nhà riêng của nhà văn Sơn
Tùng (tại ngõ Văn Chương, Hà Nội) để gửi cho nhà văn bảo quản giúp, số sắc
phong được giao nhận lúc đó là 18 đạo.
Đến tháng 8 năm 1994, nhà văn Sơn Tùng đã nhờ nhà chuyên
môn dịch toàn bộ 18 đạo sắc phong ra tiếng Việt (Ban liên lạc
Hội đồng hương Diễn Kim tại Hà Nội, 1994a, 1994b). Qua tham khảo bản dịch tiếng việt này, kết hợp với hiểu
biết về làng cũ, nhà văn Sơn Tùng đã đưa ra nhận định của ông về các vị thần ở 3 ngôi đền như trên. Sau một quá trình đi tìm rất dài
hơi, tới ngót 40 năm, thì đến năm 2020, Đền Trang đã được tỉnh Nghệ An cấp
bằng di tích cấp tỉnh - vị thần chính được cơ quan chức năng
của tỉnh xác định là Phạm Tử Nghi.
Sau đó, lễ hội Đền Trang được chính thức khôi phục.
*
* *
Ngày nay, ngôi Đền Trang ở trung tâm của làng Kim Lũy xưa
đã được khôi phục và trở thành nơi thờ chung của các vị thần vốn thuộc 3 ngôi đền trước đây (Đền Cả, Đền Trang, Đền
Cá Ông). Trong đền có bài vị thường
trực của các vị thần ở 3 ngôi đền cũ. Trong đó, vị
thần chính (vị thần trước đây của Đền Trang) là
danh tướng Phạm Tử Nghi, hai vị còn lại là phối thờ (là thần của Đền Cả và thần của Đền Cá Ông). Hàng năm, vào dịp lễ hội của Đền Trang (12 -13 tháng
Hai âm lịch), dân làng sẽ rước kiệu thần từ Đền Cả và Đền Cá Ông về Đền Trang, sau lễ hội
thì lại rước các vị hoàn cung về hai ngôi đền ấy. Như vậy, thật sự thú vị là, sau khôi phục, Đền Trang vừa chính là
nó, tức một ngôi đền được khôi phục, lại vừa mang chức năng của một ngôi đình
làng - nơi các vị thần của làng sẽ được rước về tập
trung trong dịp lễ hội. Trường hợp làng Kim Lũy ở Nghệ An cho chúng ta một ví dụ
điển hình về sức sống mạnh mẽ của các vị thẩn của làng xã truyền thống trong xã
hội đương đại. Việc tái cấu trúc lại hệ thống đền của hiện nay cũng thể hiện việc
nông thôn việt Nam đang rất khéo léo dung hợp hài hòa giữa truyền thống với điều
kiện hiện tại./.
CHÚ THÍCH
(1) Con số chính xác là: diện
tích 701,33 ha (trong đó có 197,8 ha diện tích canh tác); dân số 2.192 hộ,
9.847 nhân khẩu (Đảng ủy, 2016: 7).
(2) Thông tin về nhân sự này là dựa
theo trí nhớ của nhà văn Thiên Sơn.
(3) Cuối bài viết có dòng lạc khoản
của nhà văn Sơn Tùng: "Chiếu Văn đêm Hàn Lộ 8/9 Mậu Tý - 8/10/2008"
(Sơn Tùng, 2008: 100). Như vậy, bài này được viết xong vào ngày 8/10/2008. Sau
đó, bài được in vào tập thơ của Thiên Sơn và cuối năm 2008.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban
liên lạc Đồng hương xã Diễn Kim tại Hà Nội (Sơn Tùng tổ chức thực hiện), 1994a,
Bản sao 18 đạo sắc phong thần làng Kim Lũy - Nghệ An (bản sao bằng bút
lông trên giấy trắng khổ A4 của 18 đạo sắc phong gốc),Tài liệu gổm 19 trang viết
tay (trang đầu tiên là thống kê, 18 trang sau là 18 bản sao).
Ban
liên lạc Đồng hương xã Diễn Kim tại Hà Nội (Sơn Tùng tổ chức thực hiện), 1994b,
Bản dịch 18 đạo sắc phong thần làng Kim Lũy - Nghệ An, Tài liệu gồm 21
trang viết tay.
Ban
liên lạc Đồng hương xã Diễn Kim tại Hà Nội (người đứng tên: nhà văn Sơn Tùng,
nhà báo Thiên Sơn, nhà nghiên cứu Chu Xuân Giao; tháng 6 năm 2010), 2010a, Lịch
sử ba ngôi đền tại xã Diễn Kim (huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An và nguyện vong tái
thiết), Tư liệu gồm 7 trang đánh máy khổ A4.
Chu
Xuân Giao, 1996, Bước đầu tìm hiểu làng Đại Yên và nghề thuốc Nam cổ truyền.
Báo cáo thực tập, Bản thảo đánh máy gồm 189 trang khổ A4. Hiện lưu tại Thư viện
Viện Nghiên cứu Văn hóa.
Cung
Khắc Lược - Chu Quang Trứ, 1995, "Về đạo sắc "Tử Dương thần từ sớm nhất
hiện còn", Tạp chí Hán Nôm số 1.
Đảng
ủy - HĐND-UBND-UBMTTQ xã Diễn Kim huyện Diễn Châu, 2016, Lịch sử đảng bộ và
nhân dân xã Diễn Kim (1930-2016), Nghệ An: Nxb Nghệ An.
Malarney
Shaun Kingsley, 1997, "Culture, virtue, and political transformation in
contemporary Viet Nam", The journal of Asian studies 56 (4),
pp.899-920.
Malarney
Shaun Kingsley, 2002, Culture, ritual and revolution in Vietnam. London:
Routledge Curzon.
Lê
Hồng Lý chủ biên, 2000, Văn hóa truyền thống làng Đồng Kỵ, Hà Nội: Viện
Nghiên cứu Văn hóa Dân gian ấn hành.
Nakanishi
Yuji 中西裕二 2000 「伝統祝祭にみるベトナムの文化復興 北部ベトナムの社会変化とタイン.ゾン祭」 研究代表者.松平誠『伝統祝祭にみるベトナムの文化復興』pp.61-88,174-192.
Nhiều
tác giả, 2004, Từ điển Văn học (Bộ mới), Hà Nội: Nxb Thế giới.
Nguyễn
Duy Hinh, 1996, Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Hà Nội : Nxb Khoa học
Xã hội.
Nguyễn
Thế Kỷ, 2021, “Sơn Tùng – nhà văn, người cộng sản anh hùng”, Website Báo
Nhân Dân (lên trang ngày 26/7/2021)
https://nhandan.vn/son-tung-nha-van-nguoi-cong-san-anh-hung-post656706.html?fbclid=IwAR2ICweduA6F058yE_JkcLwz-N2T9h8ddm8Rqzl
iHpgsUOIwJOwh-BdRWe78
Sơn
Tùng, 2008, “Thay lời bạt của tác phẩm Thiên Sơn”, In trong Thiên Sơn 2008
(trang 70-100).
Sơn
Tùng, 2009, “Thay lời bạt của tác phẩm Thiên Sơn”, In trong Thiên Sơn 2009
(trang 152-185).
Suenari
Michio (Chu Xuân Giao dịch), 1996, “Sự phục hưng của tín ngưỡng dân gian Việt
Nam (trích yếu)”, Tạp chí Văn hóa Dân gian số 3 năm 1996, pp. 82-85.
Suenari
Michio (Chu Xuân Giao dịch), 1997a, “Sự phục hưng của tín ngưỡng dân gian Việt
Nam (trích yếu)”, In trong 末成道男編『東アジアの現在
人類学的研究の試し』 (The East Asian
Present – An Anthropology Exploration. Edited by Suenari Michio) 東京: 風響社, pp.369-374.
Suenari
Michio 末成道男, 1997b, 「ベトナムの民間信仰の復活 - ハノイ近郊村落の事例を中心に -」 末成道男編『東アジアの現在 人類学的研究の試し』 (The East Asian
Present – An Anthropology Exploration. Edited by Suenari Michio) 東京: 風響社, pp.143-153.
Suenari
Michio 末成道男, 1998, 『ベトナムの祖先崇拝 潮曲の社会生活』 東京: 風響社.
Thiên
Sơn, 1999, Ngọn lửa đầu tiên (thơ), Hà Nội: Nxb Thanh niên.
Thiên
Sơn, 2008, Lá thay mùa (thơ), Hà Nội: Nxb Văn hóa - Thông tin.
Thiên
Sơn, 2009, Ngọn lửa đầu tiên (thơ), Hà Nội: Nxb Thanh niên.
Thiên
Sơn, 2010, “Chủ tịch nước bên giường bệnh của nhà văn Sơn Tùng”, Website báo
Tiền Phong (lên trang ngày 23/10/2010).
https://tienphong.vn/chu-tich-nuoc-ben-giuong-benh-cua-nha-van-son-tung-post516491.tpo
Thiên
Sơn, 2013a, Đại gia (tiểu thuyết, 2 tập), Hà Nội: Nxb Lao động.
Thiên
Sơn, 2013b, “Đào Văn Lôi nhân vật lịch sử của xứ Nghệ”, Website Báo Nghệ An
(lên trang ngày 8/2/2013).
https://baonghean.vn/dao-van-loi-nhan-vat-lich-su-cua-xu-nghe-10045148.html
Thiên
Sơn, 2016, Hoa ưu đàm lại nở (truyện dài), Hà Nội: Nxb Hội Nhà văn.
Thiên
Sơn, 2021, Gió bụi đầy trời (tiểu thuyết lịch sử), Hà Nội: Nxb Hội Nhà
văn.
Thiên
Sơn, 2022, “Nhà văn Thanh Châu – Nhìn lại, cảm nhận và tôn vinh”, Website Hội
Nhà văn Việt Nam (lên trang ngày 21/1/2022).
https://vanvn.vn/nha-van-thanh-chau-nhin-lai-cam-nhan-va-ton-vinh/
Văn
Tâm, 2004, “Thanh Châu”, In trong Nhiều tác giả 2004, Từ điển Văn học - Bộ mới,
trang 1631-1632.
Bài viết đầy đủ có tại:
Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Số 44, tháng 1/2026