Giỗ Tổ Hùng Vương - Nền tảng văn hóa và kết nối cội nguồn dân tộc
Giỗ Tổ Hùng Vương - một truyền thống thiêng liêng, một biểu tượng văn hóa sâu sắc của dân tộc Việt Nam - không chỉ là ngày tưởng niệm các vị vua Hùng mà còn là dịp để mỗi người con đất Việt khẳng định đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, kết nối cội nguồn và tinh thần đại đoàn kết dân tộc.

Giỗ Tổ
Hùng Vương là một truyền thống, một biểu tượng kết nối dân tộc, đạo lý “uống nước
nhớ nguồn”. Về điều này, không chỉ các học giả (tiêu biểu là Trần Quốc Vượng,
2009; Nguyễn Danh Phiệt, 1996; Dương Huy Thiện, 2001) mà những cộng đồng cư dân
sống xung quanh vùng đất Tổ và những người Việt khác cũng đều thống nhất một
quan điểm cho rằng Hùng Vương là Thánh Tổ; trung tâm thờ cúng Hùng Vương là đền
Hùng ở trên núi Nghĩa Lĩnh. Ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3 Âm lịch ở đền Hùng là lễ
hội tưởng niệm vị vua đầu tiên của cả dân tộc, của đất nước. Ý thức này đã khắc
sâu vào trong tâm trí của người dân Việt Nam và thể hiện ý thức dân tộc, cội
nguồn, sự đoàn kết và cả sự kết nối giữa các thời đại.
Tục thờ
cúng Hùng Vương như là vị Thánh Tổ có từ lâu đời. Điều này đã được lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác và tô đậm trong ý thức của người dân sống xung
quanh vùng đất tổ và nhiều cộng đồng cư dân ở các tỉnh thành trong khắp cả nước
và ở nước ngoài. Một số tài liệu văn bia và sách cổ tịch cũng đã nói về phong tục
thờ cúng Hùng Vương. Chẳng hạn, Tục Hậu Hán thư của Hách Kinh (Văn
Uyên các tứ khố toàn thư, Đài Loan thương Vụ Ấn thư quán, năm 1983) ghi
chép về việc xâm lược Giao Chỉ của nhà Hán, trong đó tác giả Hách Kinh có viết
về một số phong tục thờ cúng và tín ngưỡng của người Việt thời kỳ đó. Ông cho
biết người Việt thời kỳ đó thờ cúng ông bà tổ tiên mình và ông tổ là Hùng
Vương. Sách Tống thư do Thẩm Ước biên soạn (Khâm định tứ khố toàn thư)
viết về lịch sử đời nhà Tống (Ngũ Đại) của Trung Quốc. Sách có một số trang ghi
chép về việc thờ cúng tổ tiên và các vua Hùng của người Việt thế kỷ III-IV sau
Công nguyên. Theo tập tục, dân làng xung quanh vùng đất Tổ đã tổ chức lễ cầu, lễ
hội dân gian liên quan đến các tích của Hùng Vương và các tướng.
Về bản chất,
ngày giỗ tổ Hùng Vương là một lễ hội dân gian. Các lễ hội ở xung quanh đền Hùng
và ở các làng quanh núi Nghĩa Lĩnh như làng Trẹo, làng Vi, làng Cổ Tích đều có
những tập tục liên quan đến tín ngưỡng nguyên thủy như thờ thần lúa, thờ núi,
thờ đá và thờ sinh thực khí với tín ngưỡng phồn thực. Chẳng hạn như tục thờ “hạt
thóc thần”, tương truyền ở trên núi có đàn tế trời thờ lúa; thờ “cụm lúa thần”
và nghi lễ thờ sinh thực khí ở làng Trẹo (huyện Lâm Thao); hòn đá thờ hình cối
xay ở trên núi Nón, khu di tích Đền Hùng. Ngoài ra, ngày 30 tháng Chạp, làng Vi
(huyện Lâm Thao) có rước tiếng hú; ngày 6 tháng Giêng có múa tùng dí. Tất cả những
nghi thức này đều mang tính chất nghi lễ cổ xưa của cư dân nông nghiệp, liên
quan đến cầu mùa. Giống như những lễ hội truyền thống khác của người Việt, giỗ tổ
Hùng Vương thực chất là một hội đám, có tế lễ, dâng hương, dâng lễ vật, có rước,
có các trò vui của những hội làng như kéo co, đấu vật, chọi gà, cờ người, đánh
phết, hát xoan.
Về không
gian thờ tự, Hùng Vương và các mỹ tự Hùng Vương như Ất Sơn Thánh Vương, Đột Ngột
Cao Sơn Thánh Vương, Viễn Sơn Thánh Vương được thờ tự trong 200 đền, đình, miếu,
chùa tại 122 làng thuộc 87 xã/phường/thị trấn, 12 huyện/thị xã, thành phố tỉnh
Phú Thọ cũ (Bùi Quang Thanh, 2011). Chưa có nhiều tài liệu cho phép nắm bắt đầy
đủ được thời gian các nơi thờ tự này bắt đầu được xây dựng. Riêng Đền Hùng,
Henri Maspero cho rằng được xây dựng vào thời nhà Trần sau năm 1313, thời kỳ mà
nhà Trần rất quan tâm đến thần tích và cấp sắc phong cho các Thành hoàng(1).
Khu di
tích Đền Hùng gồm có đền Thượng, lăng Mộ tổ, đền Trung, đền Hạ, chùa và đền Giếng.
Tất cả các đền Thượng, đền Hạ, đền Trung đều thờ Hùng Vương và những mỹ tự của
Hùng Vương như Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương, Viễn Sơn Thánh Vương, Ất Sơn Thánh
Vương. Riêng đền Giếng thờ hai nàng công chúa: Tiên Dung và Ngọc Hoa. Các nơi
thờ tự này được tu sửa từ thời Lê, bắt đầu từ thế kỷ XV khi đền Hùng và các vua
Hùng được triều đình quan tâm. Từ thế kỷ XV-XVIII, nhà nước phong kiến cấp công
điền và sắc phong cho các nơi thờ tự không chỉ ở đền Hùng mà còn cho các làng
xã xung quanh núi Nghĩa Lĩnh (Nam Việt thần kỳ hội lục, bản chính bộ Lễ
triều Lê Cảnh Hưng thứ 24 - 1763) (theo Phạm Bá Khiêm, 2005a).
Theo Ngọc
phả Hùng Vương (1470) đã chép: “Từ đời nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến
triều đại ta bây giờ là Hậu Lê (1418-1527) vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở
làng Trung Nghĩa (nay là làng Cổ Tích), ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái
để tưởng nhớ công lao của đấng Thánh Tổ xưa”. Hội Đền Hùng trước thời Hậu Lê
chưa có quy mô tầm vóc vượt ra ngoài địa phương, chưa có lễ hội với nội dung giỗ
Tổ chung của cả nước mà chỉ có tế lễ mở hội ở 3 làng Vi, Trẹo và Cổ Tích riêng
lẻ. Làng Vi và làng Trẹo mở hội vào tháng Giêng và tháng Tám (vì chung nhau đình
Cả), còn làng Cổ Tích tổ chức hội vào các ngày từ mùng 8 đến 12 tháng Ba Âm lịch.
Các làng sở tại tổ chức chính tế vào ngày 11 tháng Ba Âm lịch hàng năm. Tại các
làng Vi, Trẹo, dân làng tổ chức nghi lễ cầu tế, tuyên đọc sắc phong và tóm tắt
thần tích, thần linh. Sau đó tổ chức các trò rước voi, ngựa, chạy tùng dí, lấy
tiếng hú. Hàng năm, nhà nước cấp cho dân trưởng tạo lệ là thôn Cổ Tích, xã Hy Cương
3 quan tiền và 3 đấu gạo nếp của triều đình để làm lễ (Phạm Bá Khiêm, 2005a).
Thời nhà
Nguyễn, triều Minh Mạng (1820-1841), đền Hùng không có hội lớn và quốc lễ. Theo
văn bia thì tới triều Tự Đức (1847-1883), hội đền Hùng mới lấy lại được ý nghĩa
tôn nghiêm và tầm vóc toàn quốc. Từ triều Tự Đức, nhà Nguyễn chú ý việc trùng
tu, nâng cấp đền Hùng và phục hồi lại hình thức quốc lễ. Hình thức này kéo dài
đến những năm trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Các làng tự tổ chức tế lễ tại
đình, đền của làng, còn các ngôi đền Hùng ở núi Nghĩa Lĩnh có sự tham gia của cộng
đồng nhưng vai trò chủ lễ lại do chính quyền trung ương và địa phương theo quy
định của triều đình.
Ở nhà
quan cư, ở bên phải đền Thượng là nơi sắp lễ, ở đó có một “bia ghi về điển lệ
miếu thờ Hùng Vương”, niên đại bia: Mùa xuân năm Quý Hợi, niên hiệu Khải Định
thứ 8 (1923). Nội dung bia ghi: “Phụng sao văn bản của Bộ Lễ định ngày Quốc tế”.
Từ nay về sau lấy ngày mùng 10 tháng Ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh
kính trước 1 ngày so với ngày hội tế của bản hạt” (Ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải
Định thứ 1 (1917), Tư vụ Lê Tiềm phụng mệnh khai cấp) (Phạm Bá Khiêm, 2005b).
Trong khi đó, cư dân ở làng Cổ Tích được làm trưởng tạo lệ từ thời Lê Mạc, quốc
tế hay địa phương tổ chức lễ hội từ đó cũng tổ chức từ ngày 8 tới 12 tháng Ba Âm
lịch mà chính tế là ngày 11. Và từ đó đến nay, ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng Ba đã
trở thành ngày giỗ Tổ không chỉ của các làng quanh núi Nghĩa Lĩnh mà của cả nước.
Ngày đó đã đi vào thơ ca dân gian:
Dù
ai đi ngược về xuôi
Nhớ
ngày giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba
Câu ca
dao đậm đà tình nghĩa ấy đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam, một hình thức
truyền khẩu cho truyền thống thờ cúng.

Đoàn
tế lễ các xã vùng ven Đền Hùng thực hiện lễ rước kiệu truyền thống (Nguồn: Internet)
Ngày nay.
giỗ Tổ Hùng Vương đã được nhà nước chính thể hóa với cúc quy dịnh về tế lễ,
dâng hương, cơ quan nhà nước chủ trì. Cụ thể, từ năm 1995, Ban Bí thư Trung
ương Đảng có Chỉ thị về việc tổ chức các ngày lễ lớn trong năm, trong đó có tổ
chức giỗ Tổ Hùng Vương. Tiếp theo, Chính phủ ban hành các nghị quyết (1999),
nghị định (2001, 2004) về việc tổ chức các ngày lễ lớn trong năm, trong đó có
ngày giỗ Tổ Hùng Vương như Quốc lễ vào ngày mùng 10 tháng Ba Âm lịch. Do ngày
giỗ Tổ đã được nâng lên tầm quốc gia, một trong hàng chục nghi lễ cấp Nhà nước
(Quốc lễ), nên Nhà nước đã đầu tư, quan tâm đến Khu Di tích lịch sử đền Hùng,
phát triển quy hoạch trong tổng thể quy hoạch chung của thành phố Việt Trì để
trở thành Thành phố Lễ hội về cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Với các nghị định,
quyết định của Nhà nước về việc tổ chức ngày giỗ Tổ hùng Vương với nghi thức quốc
lễ, nghi thức dâng hương của các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ được tổ chức
long trọng ở đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh.
Hình thức
tổ chức lễ hội không còn trong phạm vi đền Hùng mà mở rộng ra cả không gian thành
phố Việt Trì, không chỉ của các làng sở tại dâng lễ mà có sự tham gia của các đoàn
nghệ thuật của các tỉnh thành trong nước và quốc tế. Bên cạnh các hình thức trình
diễn dân gian như: đánh trống đồng, đâm đuống, cồng chiêng, hát xoan - ghẹo, nấu
cơm thi, giã bánh dầy của các làng quanh khu vực đền Hùng, còn có các chương trình
nghệ thuật chuyên nghiệp, câu lạc bộ thư pháp, hội chợ, triển lãm làng nghề, phố
ẩm thực, chợ quê… Và thậm chí, ngày nay, vào thời gian lễ hội còn có thi đấu thể
thao và các “tour” du lịch về miền lễ hội. Những thay đổi này dựa trên những cứ
liệu truyền thống có từ ngàn đời nhằm nâng cao vị thế của người sáng lập ra nhà
nước Văn Lang cổ đại, khắc sâu đạo lý uống nước nhớ nguồn, tinh thần đại đoàn kết
dân tộc và sự kết nối của các triều đại, giữa quá khứ và hiện tại trong tâm thức
của người Việt Nam.
Đền Hùng
và giỗ Tổ Hùng Vương đã chứng minh con người chung một tổ tiên không chỉ trong
một gia đình, dòng họ, mà cùng trong một dân tộc. Truyền thống biết ơn và cúng
tế những người có công với làng xã, với đất nước đã khắc sâu trong tâm thức người
Việt. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, vị trí của lễ hội đền
Hùng và của vua Hùng trong lịch sử càng được đẩy mạnh, tạo thành một biểu tượng
đoàn kết dân tộc, người cùng nòi giống thương yêu đùm bọc lẫn nhau./.
CHÚ
THÍCH
O. W.
Wolters. Two Essays on Đại Việt in the Fourteenth Century, Council on
Southeast Asia Studies, Yale Center for International and Area Studies,
Political Science, 1988, tr. 24.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Phạm Bá
Khiêm, 2005a, “Lễ hội đền Hùng”, in trong Lễ hội truyền thống vùng đất tổ,
nhiều tác giả, Sở Văn hóa Thông tin Phú Thọ, Hội Văn nghệ dân gian xuất bản.
Phạm Bá Khiêm,
2005b, Khu di tích lịch sử và rừng quốc gia đền Hùng, Sở Văn hóa Thông
tin Phú Thọ xuất bản.
Nguyễn
Danh Phiệt, “Hùng Vương - động lực tinh thần của nhân dân Việt Nam”, in trong Văn
hóa Văn lang hướng về đất tổ Hùng Vương, Nxb. Chính trị Quốc gia, 1996.
Bùi Quang
Thanh, Báo cáo tổng kết kiểm kê tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Viện Văn
hóa Nghệ thuật Việt Nam tiến hành khảo sát từ năm 2010-2011, 2011.
Dương Huy
Thiện, “Lễ hội đền Hùng”, Văn nghệ dân gian Phú Thọ, In trong Tổng tập văn
nghệ dân gian đất tổ, Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao Phú Thọ - Hội Văn nghệ
dân gian Phú Thọ, Tập 2, 2001.
Trần Quốc
Vượng, “Căn bản triết lý đền Hùng và Giỗ tổ vua Hùng”, in trong Văn hóa cổ truyền
Việt Nam (lịch, tế, tử vi và phong thủy), Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa,
2009.
Trích
lược: Nguyễn
Thị Hiền & Hoàng Cầm, “Sáng tạo truyền thống: Nghiên cứu trường hợp giỗ Tổ
Hùng Vương vào ngày mồng 10 - 3 âm lịch hàng năm”, In trong Nhiều tác giả, Tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại (Nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng
thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2013.