Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện và bền vững: Hiện thực hóa mục tiêu phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số ở nước ta
Thời gian qua, chuyển đổi số ở nước ta đã có những bước tiến tích cực, được thể hiện qua hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện, hạ tầng công nghệ số được mở rộng, cũng như mức độ ứng dụng công nghệ ngày càng lan tỏa trong các ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, quá trình chuyển đổi số vẫn đang đối mặt với không ít rào cản, đòi hỏi phải được nhìn nhận và giải quyết kịp thời.
Trong bối
cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số là xu hướng phát triển tất
yếu đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp và chất lượng cuộc sống người dân. Tại Việt
Nam, chuyển đổi số đã được xác định là động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội, thông qua việc triển khai Chương trình chuyển đổi số quốc gia
đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
1. Những
kết quả đạt được
Chính phủ
đã ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến
năm 2030 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg, xác định rõ 3 trụ cột gồm Chính phủ số,
Kinh tế số và Xã hội số. Đây là kim chỉ nam quan trọng cho tiến trình chuyển đổi
số toàn diện, sâu rộng và bền vững tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã chỉ
đạo các bộ, ngành trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng
và triển khai kế hoạch chuyển đổi số riêng, đảm bảo tính đồng bộ nhưng linh hoạt,
phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương, từng lĩnh vực.
Theo Liên
Hợp Quốc, năm 2024, Việt Nam đã cải thiện vị trí trong Chỉ số phát triển Chính
phủ điện tử (EGDI), tăng 15 bậc để đạt vị trí 71 trên tổng số 193 quốc gia, phản
ánh nỗ lực nâng cao hiệu quả dịch vụ công và quản trị số. Đồng thời, theo Tổ chức
Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt
Nam cũng ghi nhận sự tiến bộ khi tăng 2 bậc, đứng ở vị trí 44/133, cho thấy môi
trường đổi mới sáng tạo ngày càng được cải thiện. Trong lĩnh vực an ninh mạng,
theo Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Việt Nam đã tăng 8 bậc trong bảng xếp
hạng toàn cầu về chỉ số an toàn, an ninh mạng (GCI), lên vị trí 17/194, thể hiện
sự quan tâm mạnh mẽ của quốc gia trong việc bảo vệ không gian số[1].
Cơ sở hạ
tầng số, Việt Nam đạt nhiều tiến bộ vượt bậc. Đến cuối năm 2024, hơn 82,4% hộ
gia đình đã sử dụng dịch vụ cáp quang, vượt mục tiêu đề ra cho năm 2025. Việc
triển khai thương mại hóa mạng 5G bởi các nhà mạng lớn, như: Viettel và VNPT đã
giúp gia tăng tốc độ kết nối, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các
ứng dụng công nghệ cao như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu
lớn (Big Data),... Đồng thời, việc tắt sóng 2G cũng cho thấy quyết tâm chuyển
mình sang một hạ tầng kết nối thế hệ mới, đồng bộ và hiệu quả hơn.
Trong khu
vực công, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã mang lại hiệu quả
rõ rệt với hơn 1,3 tỷ lượt tra cứu và 537 triệu lượt đồng bộ dữ liệu, kết nối
liên thông với 18 bộ ngành và toàn bộ 63 địa phương. Ứng dụng định danh điện tử
VNeID ngày càng được sử dụng rộng rãi, hỗ trợ thực hiện dịch vụ công trực tuyến,
y tế, giáo dục và tài chính - ngân hàng. Tính đến cuối năm 2024, 45,79% dịch vụ
công toàn trình được thực hiện trực tuyến, hướng đến mục tiêu 80% vào năm 2025.
Trong
lĩnh vực kinh tế số, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nhóm startup và
doanh nghiệp lớn, đã đẩy mạnh áp dụng các nền tảng, như: ERP, CRM, thương mại
điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, giúp nâng cao hiệu quả quản trị và mở
rộng quy mô thị trường. Bộ Thông tin và Truyền thông đã phát triển bộ công cụ
đo lường kinh tế số cấp địa phương, từ đó cho phép các tỉnh, thành phố xác định
điểm mạnh - yếu và xây dựng lộ trình phát triển kinh tế số phù hợp. Theo báo
cáo e-Conomy SEA 2024, quy mô nền kinh tế số Việt Nam ước tính đạt khoảng 30 tỷ
USD, đứng thứ hai khu vực Đông Nam Á.
Đối với
người dân, việc phổ cập điện thoại thông minh (trên 87%) và kết nối Internet tốc
độ cao đã tạo nền tảng quan trọng cho việc phổ cập xã hội số. Người dân ngày
càng quen thuộc với các ứng dụng học tập trực tuyến, chăm sóc sức khỏe từ xa,
ngân hàng số, ví điện tử, giúp nâng cao chất lượng sống, tiết kiệm thời gian và
chi phí, đồng thời thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công.
Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, tiến trình chuyển đổi số tại Việt Nam vẫn
đang đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức đáng kể, đó là:
Một là, sự
chênh lệch về hạ tầng số giữa các vùng miền vẫn còn lớn, đặc biệt là giữa khu vực
đô thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi. Trong khi các thành phố lớn,
như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đã đầu tư mạnh mẽ vào mạng 5G,
trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và các nền tảng dịch vụ số, thì nhiều tỉnh
vùng sâu vùng xa vẫn đối mặt với tình trạng kết nối Internet kém ổn định, thiếu
thiết bị đầu cuối và hạ tầng viễn thông lạc hậu.
Ha là,
nguồn nhân lực cho chuyển đổi số còn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng. Chuyển
đổi số không chỉ cần đội ngũ kỹ sư công nghệ thông tin, mà còn đòi hỏi một lực
lượng lao động phổ thông có kỹ năng số cơ bản để sử dụng các công cụ số trong sản
xuất, dịch vụ và đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ
lệ người lao động có kỹ năng số cơ bản tại Việt Nam còn thấp so với mức trung
bình khu vực. Các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo
(AI), an toàn thông tin mạng, xử lý dữ liệu lớn (Big Data), lập trình viên hệ
thống vẫn đang rất khan hiếm. Mặc dù nhiều trường đại học, cao đẳng đã mở ngành
đào tạo liên quan đến công nghệ số, nhưng chương trình giảng dạy chậm cập nhật,
thiếu thực hành và không sát với yêu cầu của thị trường là những điểm yếu cố hữu.
Điều này dẫn đến sự thiếu hụt nguồn lực trong cả khu vực công và khu vực tư.

Hội
nghị Triển khai Kế hoạch thí điểm hỗ trợ cửa hàng, hộ kinh doanh bán buôn, bán
lẻ chuyển đổi số tại tỉnh Thái Nguyên
Ba là,
chênh lệch về khả năng tiếp cận công nghệ giữa các nhóm dân cư dẫn đến nguy cơ
gia tăng khoảng cách số (digital divide). Người cao tuổi, người thu nhập thấp,
người dân ở vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số thường gặp nhiều khó khăn
trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công trực tuyến hay các ứng dụng số
do thiếu thiết bị, thiếu kỹ năng và thiếu hỗ trợ kỹ thuật. Điều này không chỉ ảnh
hưởng đến hiệu quả của quá trình số hóa xã hội mà còn có thể làm sâu sắc thêm bất
bình đẳng xã hội nếu không có các chính sách can thiệp kịp thời và hợp lý.
Bốn là,
nhận thức và tư duy về chuyển đổi số trong doanh nghiệp và người dân vẫn còn hạn
chế. Một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp - đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa
(SMEs) - vẫn xem chuyển đổi số là một chi phí tốn kém, thay vì là một khoản đầu
tư chiến lược cho tương lai.
Năm là, hệ
thống thể chế và chính sách pháp luật về chuyển đổi số còn chưa đồng bộ. Mặc dù
Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như Quyết định số 749/QĐ-TTg về
Chương trình chuyển đổi số quốc gia, hay Chiến lược quốc gia về phát triển dữ
liệu số, nhưng các quy định pháp lý liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, an
ninh mạng, định danh điện tử, chia sẻ và kết nối dữ liệu giữa các hệ thống
thông tin vẫn chưa đầy đủ và thống nhất. Nhiều cơ quan, tổ chức còn lúng túng
trong việc áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật, khiến việc liên thông, tích hợp dữ liệu
giữa các nền tảng gặp khó khăn.
2. Một số
giải pháp
Để đẩy mạnh
chuyển đổi số một cách toàn diện và bền vững, Việt Nam cần triển khai đồng bộ
nhiều giải pháp như sau:
Thứ nhất,
phát triển nguồn nhân lực số cả về chất và lượng
Nguồn
nhân lực là nhân tố quyết định sự thành công của chuyển đổi số. Do đó, cần có
chính sách đào tạo bài bản từ phổ thông đến đại học về kỹ năng số cơ bản và
nâng cao. Cần phát triển chương trình đào tạo chuyên sâu về các lĩnh vực công
nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), an toàn thông tin mạng,
blockchain. Đồng thời, tăng cường hợp tác giữa nhà nước - doanh nghiệp - cơ sở
đào tạo để tạo hệ sinh thái nhân lực số linh hoạt, thích ứng với yêu cầu phát
triển kinh tế số và xã hội số.
Thứ hai,cần
phát triển mạnh mẽ hơn nữa hạ tầng số đồng bộ và hiện đại
Việc đầu
tư cho hạ tầng số là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy mọi hoạt động chuyển đổi
số. Cần mở rộng mạng băng rộng, nâng cấp hệ thống truyền dẫn cáp quang, phổ cập
4G và thương mại hóa 5G trên toàn quốc, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền
núi, hải đảo. Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển trung
tâm dữ liệu (data center) trong nước, bảo đảm chủ quyền dữ liệu và an ninh mạng
quốc gia. Nền tảng định danh điện tử (VNeID) cần được mở rộng ứng dụng thực tế
trong y tế, giáo dục, ngân hàng và dịch vụ công.
Thứ ba,
tiếp tục hoàn thiện khung thể chế và pháp lý cho chuyển đổi số
Một trong
những rào cản lớn hiện nay là sự thiếu đồng bộ và chậm hoàn thiện của hệ thống
pháp luật liên quan đến công nghệ số. Do đó, cần đẩy nhanh quá trình ban hành
các văn bản pháp quy, như: Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Giao dịch điện tử
sửa đổi, các nghị định về định danh và xác thực điện tử, hướng dẫn chia sẻ dữ
liệu mở, an toàn thông tin mạng. Bên cạnh đó, xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật
quốc gia cho các nền tảng số, bảo đảm tính tương thích và khả năng tích hợp
trong hệ sinh thái số quốc gia.
Thứ tư,
tiếp tục thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh
nghiệp nhỏ và vừa (SMEs)
Cần triển
khai các chương trình hỗ trợ SMEs tiếp cận nền tảng số chi phí thấp, nhận tư vấn
chuyển đổi số phù hợp với quy mô và năng lực thực tế. Bên cạnh đó, cần khuyến
khích các mô hình kinh doanh số, thương mại điện tử, thanh toán không tiền mặt
và quản trị số (ERP, CRM,...) thông qua cơ chế ưu đãi thuế, tín dụng và hỗ trợ
đào tạo.
Thứ
năm, đổi mới phương thứcthông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và năng
lực số cho toàn dân và tăng cường hợp tác quốc tế và thúc đẩy đổi mới sáng tạo
trong chuyển đổi số
Tổ chức
các chiến dịch truyền thông quy mô lớn nhằm nâng cao hiểu biết về lợi ích của
chuyển đổi số, giúp người dân, đặc biệt là ở vùng nông thôn, dân tộc thiểu số
tiếp cận dễ dàng hơn với các nền tảng số phục vụ đời sống, như học tập trực tuyến,
y tế số, thủ tục hành chính trực tuyến. Cần phát triển các mô hình“bình dân học
vụ số”, “thôn bản số”, “xã số” để rút ngắn khoảng cách số giữa các vùng miền.
Việt Nam
cần chủ động tham gia các tổ chức, diễn đàn số toàn cầu để tiếp cận công nghệ mới,
học hỏi mô hình quản trị số tiên tiến. Đồng thời, cần có chính sách thu hút các
doanh nghiệp công nghệ lớn trong và ngoài nước đầu tư, chuyển giao công nghệ, đặc
biệt trong các lĩnh vực then chốt như AI, bán dẫn, điện toán lượng tử.
Hữu
Chung
[1]https://thitruongtaichinhtiente.vn/buoc-tien-manh-me-cua-viet-nam-trong-xep-hang-ve-chuyen-doi-so-quoc-te-66353.html#:~:text=Vi%E1%BB%87t%20Nam%20c%C3%B3%20b%C6%B0%E1%BB%9Bc%20ti%E1%BA%BFn,%2C%20x%E1%BA%BFp%20h%E1%BA%A1ng%2017%2F194.
Nguồn:
Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam