Viện Nghiên cứu Văn hóa (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Khoa Nhân học, Đại học Zurich trân trọng giới thiệu bản tóm tắt khuyến nghị chính sách “Không chỉ là một điệu múa: vấn đề bảo vệ xoè Thái sau ghi danh”.

Những
điểm chính sách nổi bật
Việc Xòe
Thái được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam và UNESCO đã góp phần
quan trọng vào quá trình phục hồi văn hóa, nâng cao sự công nhận của xã hội và
niềm tự hào của cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, quá trình ghi danh cũng thúc đẩy
xu hướng chuẩn hóa một số hình thức Xòe nhất định, qua đó có thể làm lu mờ sự
đa dạng về ý nghĩa và thực hành mà qua đó Xòe vẫn đang được các cộng đồng Thái
khác nhau thực hành và trải nghiệm trong đời sống.
Vì vậy, bảo
vệ di sản văn hóa phi vật thể không chỉ cần quan tâm đến những hình thức trình
diễn dễ nhận thấy trong không gian công cộng, mà còn phải chú ý đến các mối
quan hệ xã hội, nghi lễ và vũ trụ quan làm nền tảng cho sự tồn tại của các thực
hành văn hóa. Xòe nghi lễ vẫn gắn bó mật thiết với các thầy cúng, thần linh, thực
hành chữa bệnh và vũ trụ quan địa phương - những yếu tố không thể đơn giản tái
tạo thông qua các hình thức sân khấu hóa.
Sự tham
gia của cộng đồng không nên được hiểu là sự tham gia của một “cộng đồng di sản”
đồng nhất và đơn nhất. Trường hợp Đền Đông Cuông cho thấy việc ghi danh di sản
có thể làm gia tăng mức độ hiện diện và sự chú ý dành cho một địa điểm di sản,
nhưng đồng thời cũng có thể khiến một số chủ thể thực hành và những cách diễn
giải văn hóa tại địa phương bị đẩy ra bên lề.
Hoạt động
bảo vệ di sản sau ghi danh cần vượt ra ngoài việc quảng bá và chuẩn hóa các
hình thức di sản đã được công nhận. Chính sách cần bảo đảm rằng các nhóm chủ thể
thực hành khác nhau tiếp tục có vai trò thực chất trong quản trị di sản; duy
trì quyền tiếp cận theo tập quán đối với các không gian văn hóa và nghi lễ; có
điều kiện trao truyền tri thức và thực hành cho các thế hệ trẻ; đồng thời có khả
năng duy trì sự đa dạng của các hình thức và ý nghĩa di sản tại địa phương.
Giới
thiệu
Nghệ thuật
Xòe Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật
thể đại diện của nhân loại năm 2021. Việc ghi danh là một thành tựu quan trọng
trong việc ghi nhận những đóng góp văn hóa của các cộng đồng Thái, củng cố niềm
tự hào văn hóa và nâng cao sự hiện diện của Xòe trong đời sống công chúng ở cấp
địa phương, cấp tỉnh và cấp quốc gia. Sau ghi danh, Xòe ngày càng hiện diện nổi
bật trong các lễ hội, sự kiện văn hóa, hoạt động du lịch và những hình thức giới
thiệu, quảng bá về vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, việc được chính thức công nhận là
di sản cũng có thể làm thay đổi cách Xòe được thực hành, trình diễn và nhìn nhận
trong đời sống cộng đồng.
Ghi danh
di sản không đơn thuần là việc công nhận những thực hành đã tồn tại. Quá trình
này cũng có thể định hình lại chúng theo những cách thức nhất định thông qua việc
lựa chọn một số hình thức, ý nghĩa và chủ thể thực hành cụ thể để giới thiệu
trước công chúng. Đối với Xòe, hệ quả là một số động tác và phong cách trình diễn
ngày càng được chuẩn hóa và được giới thiệu như những hình thức đại diện cho
Xòe Thái, đặc biệt thông qua các sự kiện công cộng quy mô lớn với sự tham gia của
hàng nghìn người, trong đó Xòe được nhấn mạnh như một biểu hiện của tinh thần
đoàn kết, bản sắc văn hóa và sự thống nhất quốc gia.
Việc được
ghi danh chắc chắn đã tạo ra những cơ hội quan trọng cho việc trao truyền và phục
hồi văn hóa. Tuy nhiên, nghiên cứu thực địa cho thấy đời sống xã hội của Xòe đa
dạng hơn đáng kể so với những gì được thể hiện qua các hình thức đại diện di sản
trước công chúng. Đối với nhiều chủ thể thực hành người Thái, Xòe không chỉ là
một hình thức trình diễn văn hóa. Xòe còn gắn với đời sống nghi lễ, các mối
quan hệ với tổ tiên và thần linh, các thực hành chữa bệnh, quan hệ cộng đồng và
những quan niệm rộng hơn về cách con người nên cùng nhau chung sống. Vì vậy,
thách thức đối với chính sách là làm thế nào để phát huy những lợi ích của việc
ghi danh mà không làm thu hẹp sự đa dạng của một di sản sống vào một số hình thức
đã được chuẩn hóa và dễ nhận diện trong không gian công cộng.
Xòe giữa
trình diễn di sản và thực hành văn hóa sống
Sự hiện
diện nổi bật của Xòe trong đời sống công chúng hiện nay là một hiện tượng tương
đối mới. Trước đây, các hình thức Xòe nghi lễ gắn với thực hành của các bà một,
bà then từng bị coi là mê tín và không được khuyến khích, trong khi những hình
thức Xòe mang tính thế tục lại được lựa chọn để quảng bá như các hoạt động văn
hóa và nghệ thuật. Từ những năm 1990 trở đi, Xòe dần có được một vị thế mới
trong đời sống công chúng và trở thành một nguồn quan trọng tạo nên niềm tự hào
văn hóa của người Thái cũng như của khu vực. Sự chuyển đổi này không đơn thuần
do nhà nước thúc đẩy. Ở Nghĩa Lộ (Lào Cai) các chuyên gia văn hóa địa phương,
giáo viên, cán bộ và những người thực hành đã tích cực tham gia vào quá trình
phục hồi, truyền dạy và định nghĩa lại Xòe, trong đó có việc định hình và chính
thức hóa cái gọi là “sáu điệu Xòe cổ”.
Chuẩn hóa
đã tạo thuận lợi cho việc truyền dạy, trao truyền và nâng cao sự công nhận của
công chúng, nhưng quá trình này có thể trở thành vấn đề khi những phiên bản đã
được chuẩn hóa dần được coi là đại diện cho toàn bộ di sản của người Thái. Đối
với các chủ thể thực hành tại địa phương, Xòe bao gồm nhiều thực hành vượt xa
phạm vi của những màn trình diễn trước công chúng. Chẳng hạn, Xòe nghi lễ vẫn gắn
chặt với các mối quan hệ giữa bà một, con nuôi (luk liệng] và thần linh. Trong
quá trình điền dã tại Nghĩa Lộ, bà Xoan, một bà một người Thái, đã giải thích
và trực tiếp cho thấy rằng trong trạng thái nhập đồng của nghi lễ, theo quan niệm
của người thực hành, chính các vị thần giáng xuống và múa thông qua cơ thể của
thầy cúng. Những thực hành như vậy cho thấy các chiều kích của một di sản sống
vốn khó có thể được chuẩn hóa hay tái tạo trên các sân khấu công cộng.
Trường hợp
Đền Đông Cuông cho thấy rằng các “cộng đồng di sản” không phải là những thực thể
đồng nhất. Việc ghi danh di sản, quá trình trùng tu, tái thiết và sự hiện diện
ngày càng nổi bật của các thực hành thờ Mẫu đã mang lại cho ngôi đền sự chú ý
và các nguồn lực mới, trong khi những chủ thể thực hành người Tày Khao vốn có mối
liên hệ lịch sử với đời sống nghi lễ của ngôi đền lại ngày càng bị đẩy ra vị
trí ngoại vi trong hoạt động quản lý. Những phụ nữ từng giữ vai trò trung tâm
trong các nghi lễ nay được gọi là “phục vụ”, và một số người mô tả ngôi đền sau
khi biến đổi là một “đền cán bộ”. Tuy nhiên, các thực hành nghi lễ của họ không
biến mất. Trong lễ hội năm 2023, bà Hoa, một bà then người Tày Khao, đã được
Pua Nguak - vị thần nước giữ vị trí trung tâm trong vũ trụ quan địa phương - nhập,
đi vào không gian nghi lễ trung tâm và theo sau bà là những người phụ nữ thực hành
Xòe nghi lễ. Sự việc này cho thấy năng lực hành động văn hóa vẫn có thể tiếp tục
tồn tại bên ngoài - hoặc ngay trong những không gian bên lề của - các thiết chế
di sản chính thức.
Hàm ý
chính sách: hướng tới cách tiếp cận di sản sống
Kết quả
nghiên cứu này cho thấy hoạt động bảo vệ di sản sau ghi danh cần vượt ra ngoài
việc quảng bá và chuẩn hóa những hình thức di sản đã được công nhận, để hướng tới
việc duy trì những điều kiện cho phép các hình thức di sản khác nhau tiếp tục tồn
tại một cách có ý nghĩa và có sức sống. Các hệ thống tiết mục đã được chuẩn hóa
có thể hữu ích cho việc truyền dạy và trình diễn trước công chúng, nhưng không
nên trở thành những thước đo về “tính xác thực” để dựa vào đó đánh giá các thực
hành địa phương và nghi lễ khác, rồi xem chúng là ít quan trọng hơn.
Sự tham
gia của cộng đồng cũng cần được nhìn nhận trong sự phân hóa xã hội của chính cộng
đồng đó. Thay vì tham vấn “cộng đồng” như một thực thể đồng nhất, hoạt động bảo
vệ di sản cần xác định các nhóm chủ thể thực hành khác nhau và bảo đảm rằng những
chủ thể có ít quyền lực hơn về mặt thể chế vẫn giữ được vai trò thực chất trong
quá trình ra quyết định, duy trì quyền tiếp cận theo tập quán đối với các không
gian văn hóa và nghi lễ, cũng như có cơ hội trao truyền tri thức và thực hành của
mình. Các hoạt động can thiệp vào di sản không chỉ cần được đánh giá dựa trên
những nguồn lực và mức độ hiện diện mà chúng tạo ra, mà còn phải xem xét cách
thức chúng phân phối lại quyền tiếp cận, thẩm quyền và không gian văn hóa.
Điều này
cũng đòi hỏi phải xem xét lại cách thức đánh giá thành công của công tác bảo vệ
di sản. Số lượng lễ hội, người trình diễn, khách tham quan, câu lạc bộ hay các
chương trình đào tạo có thể phản ánh mức độ hiện diện của di sản, nhưng không
nhất thiết phản ánh sức sống của di sản. Việc giám sát sau ghi danh cần xem xét
liệu các thực hành đa dạng có tiếp tục duy trì được sức sống hay không, tri thức
có tiếp tục được trao truyền hay không, các chủ thể thực hành có duy trì được
quyền tiếp cận những không gian có ý nghĩa đối với họ hay không, và bản thân
các cộng đồng có nhìn nhận di sản của mình là có ý nghĩa và có khả năng được
duy trì lâu dài hay không.
Do đó,
ghi danh không nên được hiểu là sự hoàn tất của quá trình bảo vệ di sản, mà là
sự khởi đầu của một giai đoạn mới, đòi hỏi phải tiếp tục quan tâm đến cách thức
mà chính sự công nhận di sản làm biến đổi các thực hành văn hóa và các mối quan
hệ xã hội. Những biện pháp cụ thể có thể bao gồm việc định kỳ tổ chức đánh giá
dựa vào cộng đồng; tư liệu hóa các hình thức thực hành đa dạng ở địa phương,
bao gồm các hình thức nghi lễ; bảo đảm sự tham gia của các chủ thể thực hành
theo tập quán vào quản trị di sản; và tiến hành đánh giá tác động văn hóa trước
khi thực hiện các hoạt động trùng tu, tổ chức lễ hội hoặc can thiệp phát triển
du lịch quy mô lớn.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Hoàng Cầm
and Peter Bille Larsen. 2025. “Revisiting Agency and Marginality in Northern
Vietnam: Thái Xòe Between Cosmology, Heritage Performance, and Politics.”
Journal of Vietnamese Studies 20 (3–4): 98–128.
Peter
Bille Larsen and Hoàng Cầm. 2025. “Introduction: Interrogating Heritage and
Development in Contemporary Vietnam.” Journal of Vietnamese Studies 20 (3–4):
1-7.
-------------------------------------------------------------------------------------
Bản
khuyến nghị chính sách này là một sản phẩm của dự án được tài trợ bởi SNF
NAFOSTED (IZVSZ1.202714) mang tên “Tìm hiểu mối liên hệ giữa di sản và phát triển
tại Việt Nam: Cách tiếp cận đa chiều” giữa Viện Nghiên cứu Văn hóa (VASS) và
Khoa Nhân học của Đại học Zurich. Tài liệu được chuẩn bị bởi Hoàng Cầm và Peter
Bille Larsen.
Policy brief 3 (1).pdf