Định hình và tái định hình “con người văn hóa” trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay
Con người văn hóa (CNVH) là hiện tượng lịch sử, được định hình và tái định hình liên tục để đáp ứng các yêu cầu phát triển của đất nước nhưng luôn giữ bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, CNVH trở thành mô hình cụ thể hóa chiến lược xây dựng văn hóa, con người Việt Nam. Mô hình đó vừa phản ánh thực tiễn hệ giá trị, vừa định hướng hành động xã hội. Việc xác định, vinh danh, tuyên truyền, nhân rộng và bảo vệ CNVH chính là cách thức thiết thực để đưa các giá trị trừu tượng trong lý luận vào đời sống. Khi mỗi công dân dần trở thành CNVH theo lý tưởng chung, chiến lược văn hóa của Đảng và Nhà nước sẽ được hiện thực hóa sâu sắc, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bền vững.
Nguồn: Hình minh họa tạo bởi công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI)
Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam là một
chiến lược quan trọng và thiết thực trong phát triển bền vững đất nước - mục
tiêu mang tính thời đại và cũng là quan điểm xuyên suốt, nhất quán trong chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước từ trước đến nay. Cơ sở của nó nằm ở nhận
thức rằng văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là mục
tiêu và động lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội - như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
nói: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, bổ sung, phát triển
năm 2011, Đảng đã khẳng định việc xây dựng và phát triển “nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là một trong những đặc trưng cơ bản
của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang hướng đến. Cương lĩnh (bổ sung,
phát triển năm 2011) nêu rõ sự cần thiết của việc “làm cho văn hóa gắn kết
chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần
vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Nghị quyết số 33 của
Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khoá XI năm 2014 về xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước nhấn mạnh một số vấn đề mới, trong đó khẳng định mục tiêu, vai trò, nhiệm
vụ của văn hóa: “làm cho văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững
chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng
và văn minh”.
Từ chỗ coi con người là chủ thể của văn hóa, của quá trình
xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay, nhất thiết phải xác định một
cách sâu sắc rằng nhân tố con người xuất hiện trong quá trình này với những tư
cách nào và với những vai trò gì. Ở đây, có thể quan tâm đến một khía cạnh mà
lâu nay vẫn hay được nhắc đến, song nhìn chung vẫn chưa được làm rõ thật cụ thể.
Khía cạnh đó chính là “con người văn hóa” (CNVH) - một khái niệm khá đặc
biệt, liên quan trực tiếp đến quá trình xây dựng, củng cố và hiện thực hóa các
giá trị văn hóa tốt đẹp trong đời sống thực tiễn. Vậy CNVH là gì? Có ý nghĩa
như thế nào? Tại sao phải quan tâm đến CNVH bên cạnh con người hiểu một cách
chung chung. Ở một góc độ nhất định, việc trả lời các câu hỏi này có cả ý nghĩa
lý luận và thực tiễn, nhất là khi thảo luận về vấn đề thực trạng, giải pháp cho
xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong tình hình mới.
Về khái niệm “con người
văn hóa”
Trong cuộc sống hàng ngày, đôi lúc chúng ta nói về CNVH khi
muốn bày tỏ thái độ đánh giá tích cực, một sự trân trọng dành cho một ai đó.
Đây là một cách nói đẹp, và, cũng hàm ý rằng chúng ta tôn trọng những con người
đã tích lũy được giá trị tinh thần, trí thức, và thẩm mỹ mà xã hội coi trọng.
Khái niệm CNVH không chỉ dừng lại ở việc chỉ những cá nhân được giáo dục bài bản
hay có kiến thức sâu rộng, mà còn thể hiện qua cách thức người đó ứng xử và
giao tiếp với những người xung quanh. Một người được coi là CNVH (hoặc “người
có văn hóa”) thường thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm và có khả năng đánh giá cao
những giá trị đạo đức và nghệ thuật trong cuộc sống, đồng thời có hành vi ứng xử,
giao tiếp đúng mực và bài bản. Họ cũng là những người biết tìm tòi, học hỏi và
đóng góp vào kho tàng văn hóa chung của cộng đồng. Nói cách khác, họ sống và
hành động không chỉ vì bản thân mà còn hướng đến lợi ích của cộng đồng và xã hội
rộng lớn hơn. Do đó, khái niệm CNVH không chỉ là một lời khen ngợi bề ngoài mà
còn là sự nhấn mạnh đến trách nhiệm và vai trò của mỗi người trong việc định
hình và duy trì các giá trị văn hóa, giá trị con người tốt đẹp.
Khác với thường thức thông thường, các nhà nghiên cứu văn
hóa nói chung lại hiểu về CNVH theo nghĩa rộng và trừu tượng hơn, không phải là
những con người cụ thể được xã hội tôn trọng, mà là con người nói chung trong
tương quan với văn hóa. Chẳng hạn, theo Phạm Duy Đức và các cộng sự (2009): “Con
người khi hình thành về mặt giống loài, thì nó không còn là con người sinh vật
thuần túy, mà đã trở thành con người xã hội, con người văn hóa” (tr. 46).
Nói cách khác, con người khi thoát khỏi giới tự nhiên, thoát khỏi sự chi phối
thuần túy của quy luật tự nhiên để chịu sự chi phối của quy luật xã hội, thì đã
trở thành CNVH rồi. Theo Nguyễn Đăng Duy (2002), CNVH được biểu hiện ra ba mặt:
(i) Con người là sản phẩm của văn hóa (con người do văn hóa nhào nặn mà ra);
(ii) Con người là chủ thể sáng tạo văn hóa (con người cũng đồng thời tạo ra văn
hóa); và (iii) Con người là khách thể của sáng tạo văn hóa (văn hóa phải vì con
người/quyền lợi của con người) (tr. 44-45). Nói chung, theo cách hiểu hàn lâm
này, khái niệm CNVH thì không phải bàn nữa, vì bản thân con người sống trong
các xã hội, khi đã được nhào nặn bởi văn hóa và đồng thời sáng tạo ra văn hóa,
được thụ hưởng các thành tựu văn hóa-xã hội của mình, thì đã là CNVH rồi. Tuy
nhiên, điểm mạnh của cách hiểu này là nhấn mạnh vào tính chất chủ thể của con
người. “Nói chung, trong toàn bộ sự phát triển xã hội, con người luôn tồn tại
với hai tư cách, vừa là chủ thể vừa là đối tượng. Với tư cách là chủ thể, con
người thực hiện sự phát triển của xã hội. Với tư cách là đối tượng con người hưởng
thụ thành quả của sự phát triển đó” (Nguyễn Đăng Duy, 2002: 46).
Một số nhà nghiên cứu, mặt khác, đi sâu vào cốt lõi của cái
gọi là CNVH từ thực tiễn hay biểu hiện hằng ngày của khái niệm này. Theo nhà
nhân học ngôn ngữ Edward Sapir (2002), thuật ngữ CNVH hoặc theo một cách nói
khác là “người có văn hóa” - “a man of culture”/ “a cultured man”
- hàm ý việc gán các giá trị cho các hành vi. Trong cách sử dụng tiếng Anh truyền
thống, đó là “một ý tưởng thông thường về văn hóa [đề cập đến một] lý
tưởng về sự tinh tế cá nhân [và ngụ ý] một sự quy phạm về giá trị rằng một
kiểu hành vi này tốt hơn một kiểu hành vi khác và rằng một số phong tục nhất định
là tốt nhất mà không cần phải phân tích” (tr. 23). CNVH, theo đó, là người
có tư cách và phẩm chất được coi là tốt hơn và có giá trị hơn những người khác.
Nói chung, sự nhấn mạnh và đề cao này là “một thực hành chọn lọc [trong
số các hình thức khác nhau của] hành vi [được thực hành]” trong một nền
văn hóa/văn minh, sao cho các hành vi được chọn lọc dường như mang lại cho người
thực hiện khả năng toát ra sự xuất sắc và cao quý. Nó cũng là “một biểu hiện
cơ bản của tâm lý con người” (tr. 24), tức xu hướng tự nhiên của con người
là hướng đến các giá trị tốt đẹp, cao quý.
Mặc dù việc chọn lọc, so sánh giá trị và so sánh con người
với nhau bị nhân học hiện đại phê phán, vì nó thường gắn với sự phân biệt “văn
hóa cao” với “văn hóa thấp” (ngược với quan điểm về tương đối văn hóa). Tuy
nhiên, với tư cách là tâm lý hay thường thức thông thường như nhận định kể trên
của Edward Sapir, việc xác định CNVH dựa trên các hành vi được gán với giá trị
tốt đẹp đã phản ánh bản chất nhân văn của con người, của văn hóa con người, đó
là: sự tôn trọng và hướng đến những điều tốt đẹp một cách tự nhiên. Điều này
thì bất cứ ai cũng phải thừa nhận, kể cả với cách hiểu CNVH một cách chung
chung. Như nhận định của Phạm Duy Đức và các cộng sự (2009), bản chất của văn
hóa là sự sáng tạo, vươn tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp, vươn tới các giá trị
nhân văn đem lại hạnh phúc cho con người (tr. 11).
Điều quan trọng là phải nhận thức được CNVH cụ thể tác động
như thế nào tới thực tiễn văn hóa-xã hội hằng ngày. Có một cách nhìn khá hữu hiệu
ở đây, đó là nếu xem CNVH là đại diện của những giá trị tốt đẹp, thì họ đóng
vai trò như biểu tượng cho các giá trị đó. Theo nhà nhân học biểu tượng nổi tiếng
Clifford Geertz (1973), “biểu tượng” [symbol] là những phương tiện thông
qua đó con người diễn giải các ý nghĩa và kinh nghiệm của mình trong cuộc sống
hàng ngày. Biểu tượng không đơn thuần là những đối tượng hay hành vi, mà là những
“kho ý nghĩa” phức tạp, mà qua đó các cá nhân và nhóm xã hội giao tiếp, thể hiện
bản thân và giải thích thế giới xung quanh mình. Tức là, những biểu tượng tổng
hợp đặc tính của một xã hội và thế giới quan của nó. Các biểu tượng được tạo ra
và duy trì qua các quá trình lịch sử và xã hội, trong đó bao gồm cả sự lựa chọn,
sử dụng và tái sử dụng của chúng trong các tình huống khác nhau. Đặc biệt, các
biểu tượng vừa là “mô hình cho” [model for] và “mô hình của” [model
of] thực tiễn. Biểu tượng là mô hình cho thực tiễn vì chúng là khuôn mẫu để
tạo ra hiện thực, và là mô hình của thực tiễn vì chúng phản ánh hiện thực.
Geertz chỉ ra rằng đặc tính kép này của các biểu tượng làm cho chúng khác với
gene (sinh học) - vốn chỉ là “mô hình cho” chứ không phải “mô hình của” (tr.
93). Hiểu một cách đơn giản, các biểu tượng sinh ra từ thực tiễn văn hóa-xã hội,
và chúng cũng đồng thời định hướng lại thực tiễn văn hóa-xã hội.
Dựa trên cách nhìn kể trên, có thể hiểu CNVH là biểu tượng
cho các giá trị văn hóa tốt đẹp đang tồn tại trong đời sống thực tiễn. Đồng thời,
CNVH cũng là biểu tượng để mọi người noi theo, là hình ảnh lý tưởng để xã hội bắt
tay vào hiện thực hóa các giá trị tốt đẹp trong đời sống thực tiễn. Điều này nhắc
lại một đặc điểm quan trọng của CNVH: họ không chỉ sống với các giá trị của
riêng họ, mà còn tồn tại để lan tỏa các giá trị của họ, tức là sống vì xã hội.
Một xã hội lý tưởng, một nền văn hóa tiên tiến là khi CNVH trở nên phổ biến và
ngày càng có thêm nhiều CNVH, để hiện thực hóa và lan tỏa các giá trị lý tưởng
sẵn có hoặc đang xây dựng, hướng đến.
“Con người văn hóa” trong thực tiễn ở Việt Nam
Về mặt khách quan, CNVH đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử
dân tộc Việt Nam, với những gương mặt đại diện và giá trị được đại diện thay đổi
theo từng bối cảnh cụ thể. Thời xưa, người ta xem sự sinh tồn làm trọng, cho
nên đánh giá rất cao người có thể bảo vệ cho sự sinh tồn và cuộc sống no ấm của
nhân dân. Những nhân vật huyền thoại như Sơn Tinh, Thánh Gióng, Lang Liêu…,
cũng như những nhân vật lịch sử như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Mai Hắc Đế… được
nhân dân ta bao đời nay tôn thờ và lấy đó làm biểu tượng cho ước vọng chinh phục
tự nhiên, chiến thắng ngoại bang, xây dựng cuộc sống no ấm, cùng với các giá trị
như sáng tạo, lòng hiếu nghĩa, tình yêu gia đình, lòng yêu nước, sự can đảm và
tinh thần đoàn kết của người Việt Nam. Những giá trị gắn với các nhân vật này đến
nay vẫn được người Việt Nam công nhận và phần lớn trong số đó được xem là giá
trị truyền thống, xuyên suốt cho chiến lược xây dựng văn hóa, con người Việt
Nam hiện nay.
Sau thời Bắc thuộc, đến thời kỳ phong kiến
tự chủ, Nho giáo được du nhập theo một cách có hệ thống hơn và ngày càng được
xem trọng. Hệ giá trị xã hội cũng đã có sự chuyển biến. Các triều đại phong kiến
tự chủ rất cần những CNVH là biểu tượng/đại diện cho các giá trị Nho giáo dẫn dắt
xã hội, qua việc “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Nho giáo cũng ủng
hộ một số giá trị cũ của dân tộc, nhưng là theo cách thực hiện và diễn giải
khác. Ở đây, tinh thần dân tộc được cụ thể hóa thành “trung quân ái quốc” (hết
lòng với vua cũng là hết lòng với nước); sự bình yên của gia đình cũng là sự
bình yên của đất nước (tề gia, trị quốc); và tuân thủ các trật tự theo lễ giáo
phong kiến, điển hình là Tam cương (3 mối quan hệ: vua tôi, cha con, chồng vợ)
- cũng là một cách để thể hiện một con người có đạo đức. Với phụ nữ, giá trị của
họ được định nghĩa theo Tam tòng (ở nhà thì theo cha, lấy chồng thì theo chồng,
chồng mất thì theo con) và Tứ đức (Công, Dung, Ngôn, Hạnh). Cũng trong thời kỳ
này, thể chế chính trị đã đặt ra vấn đề xây dựng và phát triển CNVH. Nhà nước tổ
chức những kỳ thi để tuyển chọn người tài, người có học, lại còn đặt ra các điển
chế vinh danh cho: những người trung quân, ái quốc; những người đỗ đạt, học rộng,
tài cao; những người có đạo đức. Nhờ đó, các bậc trung thần, các Tiến sĩ nho học,
những người có đạo đức (hiếu tử, thuận tôn, nghĩa phu, tiết phụ) được tôn vinh.
Họ trở thành các tấm gương, được ghi danh trong sử sách, được dựng bia đá, được
ban biển son chữ vàng, thậm chí còn được hương khói, phụng thờ đời đời, tức là
trở thành các tấm gương mà Nhà nước khuyến khích nhân dân noi theo. Một ví dụ
cho thấy thành công điển hình và dễ thấy của nỗ lực này, đó là sự ra đời của
cái gọi là truyền thống khoa bảng hoặc võ học ở một số làng xã, nơi mà con người
qua các thế hệ thường xuyên bắt chước được các tấm gương của cha anh, để đỗ đạt
trong các kỳ thi tuyển chọn người tài và đứng ra phụng sự nhà vua, triều đình.
Có thể nói, CNVH của thời kỳ phong kiến tự chủ gắn rất chặt
với hệ giá trị Nho giáo, và trong bối cảnh đó thì hình mẫu này được xem là tốt
nhất. Tuy nhiên, đến thời kỳ cận - hiện đại, trước các yêu cầu mới của lịch sử
và vận mệnh quốc gia, nó phải dần nhường chỗ cho hình mẫu CNVH đại diện cho một
hệ giá trị khác tiên tiến hơn, nhân bản hơn. Bước vào thời đại Hồ Chí Minh - thời
đại đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, CNVH chịu ảnh hưởng sâu sắc
bởi các lý tưởng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và chủ nghĩa tập thể. Các giá
trị trung quân, ái quốc, sự phục tùng giai cấp thống trị và trật tự xã hội theo
kiểu Nho giáo không còn được chấp nhận nữa, mặc dù ít nhiều vẫn có một số khía
cạnh được tiếp thu, phát triển (điển hình là tinh thần yêu nước). Cùng với đó,
quá trình tìm kiếm, xây dựng hình mẫu CNVH kiểu mới đã bắt đầu. Đại hội Chiến
sĩ thi đua yêu nước đầu tiên (1952) đánh dấu sự ra đời của một thế hệ CNVH mới
được Đảng và Nhà nước công nhận, đó là những con người ưu tú đại diện cho tinh
thần cống hiến quên mình của các tầng lớp công, nông, binh và trí thức cho độc
lập dân tộc và cho chế độ mới. Phong trào thi đua yêu nước cũng dần được điển
chế hóa thành phong trào xã hội chính thống. Tại đó, các cá nhân, tập thể ưu tú
đại diện cho các giá trị xã hội chủ nghĩa được tìm kiếm, chọn lọc, tuyên dương,
để cho hình mẫu của họ cùng các giá trị được đại diện lan tỏa ra toàn xã hội.
Tiến hành công cuộc Đổi mới, Đảng ta đã ban hành Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, bổ sung,
phát triển năm 2011. Trong đó, Cương lĩnh năm 2011 đã nêu lên các giá trị cơ bản
của văn hóa Việt Nam là “nhân văn, dân chủ, tiến bộ”; giá trị gia đình
Việt Nam là “no ấm, tiến bộ, hạnh phúc”; chuẩn mực của con người Việt
Nam là “giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri
thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, tình nghĩa, có tinh thần quốc tế
chân chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011: 75, 76, 77). Cố Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng, trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, đã nhấn mạnh việc
xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập kết hợp nhuần
nhuyễn giá trị truyền thống với giá trị thời đại là “yêu nước, đoàn kết, tự cường,
nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo”. Tổng Bí thư còn nêu
rõ: “Những giá trị ấy được nuôi dưỡng bởi văn hóa gia đình Việt Nam với những
giá trị cốt lõi: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; được bồi đắp, phát triển
bởi nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với hệ giá trị: Dân
tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; trên nền tảng của hệ giá trị quốc gia và cũng
là mục tiêu phấn đấu cao cả của dân tộc ta: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc”. Đây được xem là sự kết hợp giữa các giá trị truyền thống với những yêu cầu
của thời đại mới, tạo thành hệ chuẩn mực định hướng suy nghĩ và hành động của mỗi
cá nhân, hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước "dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh, hạnh phúc". Đồng thời, chủ trương phổ biến và nhân rộng
hình mẫu CNVH tiếp tục được thúc đẩy nhằm hướng mọi công dân đến việc thực hành
các giá trị chung của xã hội.
Tuy nhiên, định hướng xây dựng văn
hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới là một con đường rất dài và không kém
phần gian nan. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, trước
hết cần nhận thức đầy đủ hai định đề mang tính nền tảng. Thứ nhất, con
người trong xã hội, với tư cách là những cá nhân độc lập, vốn không đồng nhất về
tư tưởng, nhận thức, tình cảm, thái độ và hành vi. Những khác biệt này được
hình thành từ sự đa dạng về điều kiện sống, hoàn cảnh gia đình, môi trường giáo
dục, trải nghiệm cá nhân, nghề nghiệp, thế hệ và bối cảnh văn hóa. Vì vậy,
không thể kỳ vọng mọi cá nhân sẽ tiếp nhận, nội tâm hóa và biểu hiện các giá trị
văn hóa theo cùng một cách thức hay ở cùng một mức độ. Ngay cả khi cùng chia sẻ
một hệ giá trị chung, cách thức hiện thực hóa các giá trị ấy trong đời sống
cũng có thể rất khác nhau.
Thứ hai, con người vốn không phải là một thực thể hoàn hảo. Mỗi cá nhân đều là
sự kết hợp giữa những ưu điểm và hạn chế, giữa các phẩm chất nổi trội và những
khiếm khuyết nhất định. Ngay cả những nhân vật được tôn vinh trong lịch sử cũng
thường chỉ được ghi nhớ bởi những đóng góp hoặc những phẩm chất tiêu biểu, chứ
không phải vì họ đạt đến sự hoàn mỹ ở mọi phương diện. Điều này cho thấy hình mẫu
CNVH về bản chất là một kiểu hình lý tưởng, được khái quát từ những giá trị mà
xã hội mong muốn và khát khao hướng tới. Khoảng cách giữa hình mẫu lý tưởng và
con người hiện thực vì thế là điều khó tránh khỏi.
Hai định đề này cũng lý
giải vì sao việc xây dựng CNVH có lẽ không nên hiểu như quá trình tạo ra những
cá nhân giống nhau hoặc đạt tới một chuẩn mực tuyệt đối. Nếu coi hình mẫu CNVH là
một hệ tiêu chuẩn cứng nhắc mà mọi cá nhân đều phải đáp ứng đầy đủ thì bản thân
mô hình ấy sẽ trở nên xa rời thực tiễn, bởi nó phủ nhận tính đa dạng của đời sống
xã hội cũng như những giới hạn vốn có của con người. Ngược lại, nếu xem CNVH như
một hệ giá trị mang tính định hướng, trong đó mỗi cá nhân có thể biểu hiện các
giá trị ấy theo những cách thức và mức độ khác nhau, thì hình mẫu này sẽ phản
ánh đúng hơn bản chất của đời sống văn hóa và quá trình phát triển con người.
Nói cách khác, hình mẫu
CNVH luôn tồn tại trong mối quan hệ giữa cái "nên có" và cái
"đang có", giữa chuẩn mực xã hội và hiện thực đời sống. Chính sự khác
biệt giữa hai phương diện này tạo nên động lực để xã hội không ngừng hoàn thiện
các chuẩn mực văn hóa, đồng thời cũng lý giải vì sao việc xây dựng CNVH luôn là
một quá trình liên tục, không có điểm kết thúc tuyệt đối. Đây không phải là mục
tiêu có thể hoàn thành trong một giai đoạn lịch sử nhất định, mà là quá trình
xã hội không ngừng điều chỉnh, bổ sung và tái kiến tạo các giá trị phù hợp với
sự vận động của thời đại, đồng thời tạo điều kiện để mỗi cá nhân từng bước tiến
gần hơn đến những giá trị đó theo khả năng và hoàn cảnh của mình.
Một số thách thức đặt
ra hiện nay trong quá trình xây dựng “con người văn hóa”
Việc xây dựng hình mẫu CNVH
được triển khai thông qua nhiều cơ chế và công cụ khác nhau, kết hợp giữa các
biện pháp thể chế, giáo dục và truyền thông nhằm định hướng nhận thức, điều chỉnh
hành vi và lan tỏa các giá trị văn hóa trong xã hội.
Mặc dù đã đạt được nhiều
kết quả, quá trình xây dựng và phát triển hình mẫu CNVH vẫn đang đối mặt với
không ít thách thức. Trước hết, hệ thống các hình mẫu tiêu biểu hiện nay chưa
phản ánh đầy đủ và cân đối toàn bộ hệ giá trị được đặt ra. Một số phẩm chất như
lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết hay ý chí tự cường tương đối dễ được cụ thể
hóa thông qua các điển hình tiên tiến, trong khi những giá trị như trung thực,
liêm chính, kỷ cương hay tôn trọng pháp luật lại ít được tôn vinh như những phẩm
chất độc lập. Vì vậy, xã hội chưa hình thành được nhiều hình tượng có sức lan tỏa
mạnh mẽ về những cá nhân tiêu biểu cho đạo đức nghề nghiệp, tinh thần thượng
tôn pháp luật hoặc tính chính trực trong nghiên cứu khoa học và hoạt động kinh
doanh. Điều này cho thấy việc xây dựng hệ thống hình mẫu CNVH vẫn còn thiên về
một số nhóm giá trị nhất định, trong khi nhiều phẩm chất quan trọng khác chưa
được thể hiện rõ nét trong đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, sự kết hợp
giữa các giá trị truyền thống và các giá trị hiện đại cũng đặt ra những yêu cầu
về tính hài hòa và nhất quán. Những phẩm chất vốn được coi là thế mạnh của văn
hóa Việt Nam, chẳng hạn như tinh thần nghĩa tình, sự linh hoạt hay tính cộng đồng,
trong một số trường hợp có thể nảy sinh mâu thuẫn với các yêu cầu của xã hội hiện
đại như kỷ cương, tính duy lý và nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Chẳng hạn, lối
ứng xử thiên về tình cảm đôi khi làm giảm tính nghiêm minh trong thực thi pháp
luật, trong khi sự linh hoạt nếu thiếu khuôn khổ có thể dẫn đến biểu hiện tùy
tiện hoặc làm suy giảm tính chuyên nghiệp trong hoạt động công vụ. Đồng thời,
xu hướng đề cao một số giá trị và xem nhẹ các giá trị khác vẫn còn tồn tại, làm
hạn chế khả năng nhìn nhận các hình mẫu CNVH như những phương diện khác nhau
nhưng bình đẳng trong cùng một hệ giá trị thống nhất.
Một thách thức khác nằm
ở cơ chế duy trì, khuyến khích và bảo vệ những cá nhân tiêu biểu. Mặc dù hệ thống
chính sách tôn vinh và đãi ngộ đã được thiết lập tương đối đồng bộ trong khu vực
công, các cơ chế tương tự đối với khu vực ngoài nhà nước vẫn còn thiếu thống nhất
và chưa tạo được động lực đủ mạnh. Quan trọng hơn, hành lang pháp lý nhằm bảo vệ
danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của những người có hành vi đẹp trong đời sống
xã hội vẫn còn nhiều khoảng trống. Thực tế cho thấy không ít trường hợp cứu
giúp người gặp nạn, hiến tạng cứu người hoặc dũng cảm đấu tranh chống tiêu cực
lại phải đối mặt với những tổn thất về vật chất, tinh thần, thậm chí bị kỳ thị
hoặc cô lập bởi dư luận xã hội. Trong bối cảnh văn hóa Á Đông coi trọng tính cộng
đồng, những cá nhân có hành động vượt khỏi các khuôn mẫu thông thường đôi khi
phải chịu những áp lực xã hội nhất định. Nếu thiếu các cơ chế pháp lý đủ mạnh để
bảo vệ và khuyến khích những hành vi tích cực, việc duy trì và lan tỏa các giá
trị văn hóa sẽ gặp nhiều khó khăn.
Cuối cùng, quá trình
xây dựng con người văn hóa đang chịu tác động ngày càng rõ nét từ những biến đổi
của nền kinh tế thị trường và môi trường truyền thông số. Bản thân kinh tế thị
trường không mặc nhiên làm suy giảm các giá trị văn hóa, nhưng cơ chế cạnh
tranh và sự đề cao hiệu quả, lợi ích vật chất có thể làm thay đổi hệ quy chiếu
giá trị của một bộ phận xã hội. Trong bối cảnh đó, những biểu hiện của chủ
nghĩa thực dụng, lối sống hưởng thụ hay sự thờ ơ trước lợi ích cộng đồng dễ có
điều kiện phát triển hơn, không phải vì chúng trở thành giá trị được xã hội thừa
nhận, mà vì chúng mang lại những lợi ích trước mắt và dễ được nhìn thấy hơn. Xu
hướng này tiếp tục được khuếch đại bởi sự phát triển của truyền thông số và các
nền tảng mạng xã hội. Không gian mạng vận hành chủ yếu theo cơ chế thu hút sự
chú ý, trong đó những nội dung gây tranh cãi, kích thích cảm xúc mạnh hoặc phản
ánh các hiện tượng tiêu cực thường có khả năng lan truyền nhanh hơn những hành
vi tích cực diễn ra một cách bình thường trong đời sống. Hệ quả là nhận thức của
công chúng về thực trạng xã hội có thể bị lệch khỏi thực tế: các hiện tượng phản
giá trị xuất hiện với tần suất dày đặc trên truyền thông khiến chúng được cảm
nhận như đang phổ biến hơn nhiều so với mức độ thực tế. Trong khi đó, những
hành vi tử tế, trung thực hay có trách nhiệm vốn diễn ra âm thầm và ít tạo hiệu
ứng truyền thông lại trở nên mờ nhạt trong không gian công cộng. Khi các hiện
tượng phản giá trị liên tục chiếm ưu thế trong dòng thông tin hằng ngày, đặc biệt
trên các nền tảng số, công chúng, nhất là giới trẻ, dễ hình thành cảm giác rằng
các giá trị chân, thiện, mỹ đang trở nên hiếm hoi hoặc chỉ còn mang tính lý tưởng.
Một khi niềm tin vào sự hiện diện của những hình mẫu con người văn hóa bị suy
giảm, sức hấp dẫn và khả năng định hướng của chính hình mẫu đó đối với đời sống
xã hội cũng sẽ suy yếu theo. Đây chính là một trong những thách thức đáng chú ý
đối với quá trình xây dựng và củng cố hệ giá trị văn hóa trong bối cảnh xã hội
đương đại.
*
* *
CNVH là một hiện tượng lịch
sử mà thời đại nào cũng có. Tuy nhiên, ở mỗi thời đại, bên cạnh những giá trị
có tính chất xuyên suốt, bản sắc dân tộc, CNVH còn được định hình sao cho đáp ứng
với những yêu cầu, đòi hỏi riêng về mặt xã hội, tư tưởng, đạo đức... Với chủ
trương xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát
triển bền vững đất nước, các giá trị văn hóa, con người Việt Nam được Đảng xác
định hiện nay là một cách thức để định hình và nhận diện CNVH trong thời đại mới.
Ở đây, có thể nhận thức được rằng CNVH đóng vai trò là hình mẫu để cụ thể hóa của
chủ trương xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Đó vừa là mô hình biểu
hiện cho thực tiễn xây dựng hệ giá trị, vừa là mô hình để định hướng cho thực
tiễn đó. Không có CNVH, phương thức và kết quả của xây dựng và phát triển văn
hóa, con người Việt Nam sẽ chỉ ở mức độ chung chung, không cụ thể, thậm chí chỉ
dừng lại ở góc độ lý luận và diễn ngôn, khó được hiện thực hóa. Cho nên, việc
xác định rõ CNVH, quan tâm đến CNVH, bảo vệ CNVH chính là những biện pháp thiết
thực để góp phần thực hiện chiến lược tổng thể về văn hóa và con người Việt Nam
hiện nay./.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Trọng Chuẩn; Phạm Văn Đức; Hồ Sĩ Quý (chủ biên -
2001), Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hóa học Việt Nam, Nxb.
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc làn thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011.
Phạm Duy Đức (chủ biên - 2009), Phát triển văn hóa Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Goscha, C. E. (2016), The Penguin History of Modern
Vietnam: A History, Penguin Books Limited.
Tô Duy Hợp (2007), Khinh - Trọng Một quan điểm lý thuyết
trong nghiên cứu triết học và xã hội học, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
Nguyen, P. M.; Terlouw, C.; Pilot, A. (2014), “Revisiting
Facework with a new analysis instrument”, Journal of Intercultural
Communication, Vol. 36, https://immi.se/intercultural/nr36/nguyen.html.
Sapir, E. (2002), The Psychology of Culture. A Course of
Lectures (edited by J. Irvine), New York, Berlin: Mouton de Gruyter.
Nguyễn Phú Trọng (2021), Ra sức xây dựng, giữ gìn và
phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Hà Nội, ngày 24/11/2021.
Werner, J. (2008), Gender, Household and State in
Post-Revolutionary Vietnam, London: Routledge.
Chi đoàn Viện Nghiên cứu Văn hóa