Ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng
(ĐCSVN) - Ngày 17/8/2026, đồng chí Nguyễn Hải Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng ký Quyết định số 23-QĐ/BCĐ ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, phiên bản 1.0. Bộ chỉ số là công cụ đánh giá đồng thời năng lực số của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và mức độ sẵn sàng, kết quả chuyển đổi số của các cơ quan Đảng từ Trung ương đến các tỉnh, thành ủy.
Ảnh minh họa.
Đánh
giá thực chất năng lực số và kết quả chuyển đổi số
Theo Bộ
chỉ số, năng lực số của cán bộ được đánh giá thông qua nhận thức, kiến thức, kỹ
năng và khả năng sử dụng, khai thác công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống và nền tảng
số trong thực hiện nhiệm vụ. Đối với cơ quan Đảng, mức độ sẵn sàng chuyển đổi số
được phản ánh qua cả các điều kiện bảo đảm và kết quả chuyển đổi số thực tế.
Kết quả
đánh giá nhằm tạo cơ sở đánh giá thực chất, khách quan việc thực hiện nhiệm vụ
chuyển đổi số hằng năm; đồng thời được sử dụng là một trong những căn cứ để kiểm
điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với cá nhân, tổ chức Đảng theo
Quy định số 366-QĐ/TW, theo lộ trình và hướng dẫn của cấp có thẩm quyền.
Bộ chỉ số
được áp dụng đối với các cơ quan Đảng và cán bộ, công chức, viên chức đang công
tác trong các cơ quan Đảng; không áp dụng đối với những người lao động không trực
tiếp sử dụng hệ thống thông tin, nền tảng số để thực hiện nhiệm vụ.
Bộ chỉ số
được thiết kế theo hai nhóm đánh giá: đánh giá tổ chức và đánh giá cá
nhân. Đối với tổ chức, Bộ chỉ số gồm 9 chỉ số chính, 27 chỉ số thành phần,
tổng điểm 1.000. Trong đó, 400 điểm dành cho các điều kiện sẵn sàng chuyển đổi
số, gồm: nhận thức số và trách nhiệm của người đứng đầu, thể chế số, hạ tầng số
và nền tảng dùng chung, nhân lực số, an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và dữ
liệu.
600 điểm
còn lại đánh giá kết quả hoạt động chuyển đổi số, tập trung vào xử lý công việc
toàn trình trên môi trường số; hiệu quả về thời gian, chi phí; dữ liệu phục vụ
lãnh đạo, chỉ đạo; đổi mới quy trình, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các sáng kiến,
giải pháp về chuyển đổi số.
Đối với
cá nhân, Bộ chỉ số đánh giá hai nhóm năng lực là kiến thức số cơ bản và kỹ năng
số cơ bản. Nội dung kỹ năng bao gồm khai thác thông tin, dữ liệu số; giao tiếp,
hợp tác trên môi trường số; sáng tạo nội dung số; bảo vệ bí mật nhà nước, an
ninh mạng, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư; giải quyết vấn đề nhờ công nghệ số
và sử dụng, khai thác các ứng dụng dùng chung.
Chú trọng
ứng dụng AI, dữ liệu và an toàn số
Bộ chỉ số
đặt yêu cầu tương đối toàn diện đối với năng lực số, không chỉ dừng ở khả năng
sử dụng các phần mềm, hệ thống số mà hướng tới khả năng khai thác dữ liệu, ứng
dụng trí tuệ nhân tạo và đổi mới phương thức làm việc.
Đối với tổ
chức, việc ứng dụng AI, công cụ tự động hóa trong các quy trình nghiệp vụ được
đưa thành một chỉ số đánh giá. Việc ứng dụng phải có mục tiêu rõ ràng, tuân thủ
yêu cầu bảo mật, có kiểm soát của con người và có kết quả thực tế có thể đánh
giá.
Đối với cá
nhân, cán bộ được yêu cầu có kiến thức cơ bản về AI, biết sử dụng AI hỗ trợ
công việc, đồng thời nhận thức được các vấn đề đạo đức, pháp lý và yêu cầu sử dụng
AI an toàn, có trách nhiệm. Bộ chỉ số cũng yêu cầu cán bộ biết kiểm chứng thông
tin do AI tạo ra và không sử dụng kết quả AI làm căn cứ duy nhất để xác định
tính xác thực của thông tin.
Bộ chỉ số
ưu tiên khai thác dữ liệu tự động từ các hệ thống thông tin dùng chung để phục
vụ chấm điểm, qua đó hạn chế việc đánh giá chỉ dựa trên báo cáo thủ công. Đối với
tổ chức, cơ quan tự đánh giá, người đứng đầu ký xác nhận và chịu trách nhiệm về
tính chính xác, trung thực của kết quả.
Các cơ
quan Đảng sẽ thực hiện đánh giá định kỳ 6 tháng nhằm theo dõi tiến độ, cảnh báo
hạn chế, xác định điểm nghẽn và đôn đốc khắc phục; kết quả trong giai đoạn này
phục vụ công tác quản trị và chưa sử dụng để xếp hạng chính thức. Kỳ đánh giá đầu
tiên được thực hiện theo phương thức thí điểm để kiểm chứng tính phù hợp của chỉ
số, nguồn dữ liệu, phương pháp tính và điều kiện tổ chức thực hiện.
Đối với
các kỳ đánh giá chính thức, việc đánh giá được thực hiện hằng năm trên cơ sở dữ
liệu của cả năm, kết hợp giữa tự đánh giá, dữ liệu hệ thống, thẩm định, kiểm
tra sau công bố và giải trình qua phần mềm.
Việc ban
hành Bộ chỉ số phiên bản 1.0 tạo ra một khung đánh giá tương đối thống nhất đối
với cả “năng lực số của con người” và “mức độ chuyển đổi số của tổ chức” trong
các cơ quan Đảng. Qua đó, các cơ quan có thể nhận diện rõ điểm mạnh, điểm yếu,
những điểm nghẽn cần khắc phục và theo dõi tiến độ chuyển đổi số qua từng kỳ
đánh giá./.
Thương
Huyền
Nguồn:
Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam