Kỷ niệm 136 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa kiệt xuất!
Tháng Năm về mang theo cái nắng vàng rực rỡ và cả niềm xúc động thiêng liêng khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cùng hướng về Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu (19/05/1890 - 19/05/2026). Đây là dịp để toàn dân tộc cùng nhìn lại một hành trình lịch sử vĩ đại, nơi tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước.
Quá trình hình
thành nên nhân cách kiệt xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi nguồn sâu sắc từ
nền tảng giáo dục gia đình, đặc biệt là tầm ảnh hưởng từ thân phụ - cụ Phó bảng
Nguyễn Sinh Sắc, người thầy đầu tiên đã dạy chữ, dạy làm người và hun đúc lòng
yêu nước cho Người. Cụ Sắc vốn là một nhà nho cấp tiến, có nhân cách cao
thượng, luôn coi trọng đạo đức, sống giản dị và gần gũi với nhân dân. Khác với
nhiều nhà nho đương thời, cụ Sắc không chỉ truyền cho con trí tuệ, học vấn mà
còn truyền lòng nhiệt huyết, chí khí mạnh mẽ và tinh thần lao động chân tay từ
thuở nhỏ. Chính tư tưởng “thương dân” sâu sắc của người cha - một người từng
trải qua cảnh nghèo khó và luôn đứng về phía những người khốn khổ - đã trở
thành gốc rễ cho tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh sau này.
Trong suốt những
năm tháng tuổi thơ, Nguyễn Tất Thành đã được cha tạo điều kiện để trải nghiệm
thực tiễn cuộc sống và tham gia vào các buổi đàm luận với những sĩ phu yêu nước
có tư tưởng cấp tiến. Những bài học “mắt thấy, tai nghe” về sự day dứt của các
bậc cha chú trước cảnh nước mất nhà tan đã sớm hình thành trong Người một ý chí
tự lập và một cái nhìn thức thời. Sự định hướng của cụ Nguyễn Sinh Sắc mang
tính đột phá khi khuyến khích con học tiếng Pháp để “hiểu được kẻ thù” và tiếp
xúc với văn minh phương Tây, bất chấp sự bài xích của nhiều nhà nho đương thời.
Ba chữ “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” đã khơi dậy trong lòng người thanh niên trẻ
tuổi một niềm khao khát khám phá bản chất ẩn giấu đằng sau những khẩu hiệu ấy.
Quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Người càng trở nên sắt đá sau lời dặn dò
đầy tâm huyết của cha tại Bình Khê: “Nước mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng
có ích gì?”, lời dặn ấy đã trở thành động lực để Người sẵn sàng dấn thân
vào cuộc đời lao động gian khổ để thực hiện mục tiêu tìm lại “Nước mất thì
đi tìm hồn của nước”. Năm 1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, Người ra đi tìm đường
cứu nước, bắt đầu hành trình bôn ba qua nhiều châu lục để tìm ra ánh sáng cho
cách mạng Việt Nam. Việc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và
lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945 là những mốc son chói lọi, mở
ra bước ngoặt lịch sử đưa dân tộc ta từ ách nô lệ giành lại quyền làm chủ đất
nước. Sau đó, suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân và đế quốc,
Người đã cùng Trung ương Đảng chèo lái con thuyền cách mạng đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Hành trình tìm
đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện bản lĩnh kiên cường
mà còn cho thấy một tầm nhìn chiến lược vĩ đại, thường được các cộng sự ca ngợi
như những điều tiên tri kỳ diệu. Một trong những minh chứng rực rỡ nhất là việc
Người đặt tên cho tám chiến sĩ bảo vệ mình vào đầu năm 1947 là Trường, Kỳ,
Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi. Việc đặt tên này không đơn thuần là để
giữ bí mật mà còn chứa đựng niềm tin sắt đá và dự đoán chính xác về một cuộc
chiến đấu dài hơi sẽ kết thúc bằng thắng lợi trọn vẹn. Thực tế lịch sử đã chứng
minh, từ năm 1947 đến khi giải phóng Thủ đô vào năm 1954 vừa vặn tròn tám năm,
đúng như số lượng tên gọi mà Người đã đặt cho các chiến sĩ của mình. Người cũng
thường dùng những hình ảnh gần gũi để giải thích cho nhân dân hiểu rằng thắng
lợi cần có kỳ hạn và sự nhẫn nại, chuẩn bị kỹ lưỡng.
Tầm nhìn của Người
về chiến thắng Điện Biên Phủ càng khiến các nhà nghiên cứu sau này phải kinh
ngạc vì tính xác thực và chiều sâu. Ngay từ năm 1949, trong tác phẩm “Giấc ngủ
mười năm”, Người đã phác họa một trận chiến cuối cùng khiến giặc Pháp hoàn toàn
thất bại và dự báo bộ đội ta sẽ trở về Thủ đô vào năm 1954. Đến năm 1950, khi
chuẩn bị cho chiến dịch Biên giới, Người lại một lần nữa tiên lượng rằng cuộc
kháng chiến có thể kéo dài thêm bốn, năm năm nữa, một mốc thời gian trùng khớp
hoàn hảo với ngày thắng lợi cuối cùng. Trong những cuộc đàm luận với luật sư
Phan Anh hay nhà báo Burchett, Người luôn khẳng định Điện Biên Phủ sẽ là một
thung lũng mà quân Pháp không bao giờ thoát được, và ví trận đánh này như một “Stalingrad
ở Đông Dương”. Quyết định mở chiến dịch tại Tỉn Keo vào tháng 10 năm 1953 và
chỉ thị “chắc thắng mới đánh” dành cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là chìa
khóa tạo nên mốc son chói lọi bằng vàng của lịch sử dân tộc.
Song hành với sự nghiệp
quân sự lẫy lừng, di sản văn chương và phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh cũng
là một tài sản vô giá, thấm đượm chất dân gian. Người là bậc thầy trong việc “dân gian hóa” các thông
điệp chính trị để đưa tư tưởng cách mạng vào sâu trong lòng dân. Với tôn chỉ “văn hóa phải
đi sâu vào tâm lý quốc dân”, Người đã sử dụng văn
chương như một vũ khí chiến đấu sắc bén, biến các sáng tác của mình thành những
bài học đạo đức và chính trị sống động. Thay vì sử dụng những lời cao đàm khoát luận hay điển
cố thâm thúy của các triết gia, Người chọn cách viết những bài “ca” có vần, có
điệu, dễ học và dễ thuộc để truyền tải thông điệp tới quần chúng. Nhiều bài văn
vần của Người như “Ba mươi bài ca Việt Minh” hay những bài ca chúc Tết hàng năm
đã trở thành những lời truyền miệng tự nhiên trong đời sống nhân dân. Phong
cách sáng tác của Người luôn hướng tới mục đích thiết thực nhất: làm cho người
nghe cảm động, dễ ghi nhớ và làm theo để tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân.
Đặc biệt, nghệ
thuật vận dụng ngụ ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một vũ khí chiến
đấu sắc bén, giúp Người truyền bá đạo đức và lý tưởng cách mạng một cách tinh
tế. Trong những năm hoạt động tại nước ngoài từ 1922-1924, Người đã dùng nhiều
hình ảnh ẩn dụ như “con chó đeo vòng cổ”, “con rồng tre” hay các biểu tượng về
loài cầm thú để vạch trần bản chất độc ác, ngu dốt của bọn thực dân và bè lũ
tay sai. Những bài thơ ngụ ngôn như “Ca sợi chỉ” để nói về sức mạnh của sự tập
hợp, “Hòn đá to” để nhấn mạnh việc đồng lòng, hay “Con cáo và tổ ong” để đề cao
tinh thần đoàn kết đã trở thành những bài học chính trị sống động. Khác với ngụ
ngôn Trung Quốc thường dùng điển tích khó hiểu, ngụ ngôn của Hồ Chí Minh luôn
sử dụng những hình ảnh gần gũi, giản đơn nhất để ai cũng có thể nhận thấy ý
nghĩa mà không cần suy xét quá sâu xa.
Di sản của Người
không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà còn mang tầm ảnh hưởng quốc tế
sâu rộng, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân toàn cầu. Chiến thắng Điện
Biên Phủ dưới sự lãnh đạo của Người đã được ví như “trận Valmy của các dân tộc
da màu”, khích lệ các nước thuộc địa vùng lên giành độc lập.
Cuộc đời Hồ Chí
Minh là một tấm gương sáng ngời về ý chí kiên cường, nghị lực phi thường và tấm
gương lao động miệt mài, kế thừa xuất sắc truyền thống của thân phụ. Từ những
bài học đầu đời về lòng thương dân đến hành trình thay đổi vận mệnh dân tộc,
Người đã để lại một hệ thống tư tưởng và phong cách sống giản dị nhưng thâm
thúy, mãi mãi là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau. Sáng ngời trong
tư tưởng ấy là sức mạnh của đại đoàn kết và niềm tin tuyệt đối vào chính nghĩa,
một di sản tinh thần vĩnh cửu của dân tộc Việt Nam.
Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
vĩ đại (19/05/1890 - 19/05/2026), Viện Nghiên cứu Văn hoá xin trân trọng giới
thiệu lại một số công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Người được
đăng tải trên Số Đặc biệt (1990) Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Danh nhân văn hoá Thế giới, Tạp chí Văn hoá Dân gian (Tiền thân của Tạp chí
Nghiên cứu Văn hoá, Viện Nghiên cứu Văn hoá):



Tài liệu tham khảo
1. Đỗ Hoàng Linh và Nguyễn Văn Dương. 2008. Chuyện kể
về thời niên thiếu của Bác Hồ. Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011.
3. Lê Cường. 1996. Chiến thắng Điện Biên Phủ qua điều
tiên tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tạp chí Văn hoá dân gian, số 2(54),
tr.30-36.
4. Minh Hạnh. 1991. Chủ tịch Hồ Chí Minh và việc vận
dụng ngụ ngôn. Tạp chí Văn hoá dân gian, số 4(36), tr.14-18.
5. Vũ Anh Tuấn. 1991. Tiếp cận di sản văn chương của
chủ tịch Hồ Chí Minh dưới góc độ văn hoá dân gian. Tạp chí Văn hoá dân
gian, số 4(36), tr.14-18.
Tác giả: ThS. Phan Thị Kim Tâm