Nguồn tin khoa học nội sinh về văn hoá, văn hoá dân gian của Viện Nghiên cứu văn hoá

07/05/2007

1. Tháng 12 năm 1979, Ban Văn hoá dân gian (trực thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam) được thành lập. Năm 1983, tổ chức này được chuyển thành Viện Văn hoá dân gian (thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam). Tháng 5 năm 1993, Viện Văn hoá dân gian được gọi là Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian(1); từ ngày 15 tháng 1 năm 2004 đến nay gọi là Viện Nghiên cứu văn hoá (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam).

Vũ Quang Dũng
(Thư viện Viện Nghiên cứu văn hoá)
1. Tháng 12 năm 1979, Ban Văn hoá dân gian (trực thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam) được thành lập. Năm 1983, tổ chức này được chuyển thành Viện Văn hoá dân gian (thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam). Tháng 5 năm 1993, Viện Văn hoá dân gian được gọi là Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian(1); từ ngày 15 tháng 1 năm 2004 đến nay gọi là Viện Nghiên cứu văn hoá (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam).
Nếu tính từ năm 1979 đến nay, Viện Nghiên cứu văn hoá đã trải qua một phần tư thế kỷ xây dựng và phát triển. Đó là cái mốc đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của bộ môn sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian của nước ta.
Viện Nghiên cứu văn hoá (Institute of Cultural Studies) có chức năng, nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về văn hoá học và văn hoá Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học về phát triển văn hoá, đóng góp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược quy hoạch và chính sách phát triển bền vững, đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ về văn hoá học và văn hoá dân gian; tham gia phát triển tiềm lực khoa học về văn hoá của cả nước.
- Tiến hành nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hoá Việt Nam (bao gồm văn hoá người Việt và các dân tộc thiểu số). Tổ chức điều tra, sưu tầm, bảo quản và phát huy di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc Việt Nam.
- Tổ chức thẩm định và tham gia tư vấn về mặt khoa học cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội ở các bộ, ngành, địa phương.
- Tổ chức hợp tác quốc tế về nghiên cứu, đào tạo; trao đổi thông tin khoa học với các cơ quan trong nước và nước ngoài.
2. Xuất phát từ vấn đề trên, trong bài viết này, chúng tôi trình bày nguồn tin khoa học nội sinh về văn hoá - văn hoá dân gian của Viện Nghiên cứu văn hoá từ ngày thành lập đến nay, chủ yếu qua nguồn tài liệu khoa học được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu văn hoá.
Có thể nói, trong những năm gần đây, số người đọc có nhu cầu đối với sách báo, tài liệu về văn hoá dân gian ngày một tăng nhanh, đặc biệt là sau Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII: Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong những năm gần đây, nhu cầu thông tin tư liệu phục vụ cho cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh,... cũng có sự gia tăng rõ rệt. Xu hướng này là tất yếu, gắn liền với việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Yếu tố này đã tác động đến sự phát triển của công tác thông tin - thư viện, đòi hỏi hệ thống thông tin - thư viện của cả nước nói chung và của Viện Nghiên cứu Văn hoá nói riêng là phải quan tâm phục vụ các đối tượng nói trên đáp ứng đủ nhu cầu về tài liệu và thông tin tư liệu về mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Hiện nay, nguồn tin khoa học nội sinh của Viện Nghiên cứu văn hoá được tạo ra từ các nguồn hệ thống đề tài: cấp nhà nước, cấp bộ, nhiệm vụ cấp bộ, cấp viện, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ... Từ ngày thành lập đến nay, hoạt động khoa học của Viện Nghiên cứu văn hoá đã triển khai một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:
a/ Một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra khi mới thành lập Viện là việc xây dựng cơ sở lý luận khoa học của ngành. Một số công trình đã đi vào lĩnh vực này phần nào đã làm sáng tỏ mục đích, đối tượng và nhiệm vụ của một viện chuyên ngành. Thuộc hệ thống này, có thể kể đến các công trình: Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian (1989)(2), Văn hoá dân gian - những lĩnh vực nghiên cứu (1989), Văn hoá dân gian - những phương pháp nghiên cứu (1990), Quan niệm về folklore (1990),...
b/ Tổ chức việc điều tra sưu tầm văn hoá dân gian các dân tộc Việt Nam trên các lĩnh vực: Văn học dân gian (như thần thoại, sử thi, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười, giai thoại, tục ngữ, thành ngữ, ca dao, vè, v.v...); Nghệ thuật biểu diễn và nghệ thuật tạo hình dân gian; Tín ngưỡng, lễ hội và phong tục; Tri thức dân gian. Điều này càng trở nên cấp thiết khi mà các di sản văn hoá này, nhất là di sản văn hoá truyền miệng, không thành văn ngày càng bị mai một, có nguy cơ mất hẳn, khi mà thế hệ những con người - những báu vật nhân văn sống hiện còn bảo lưu các di sản này ngày một già yếu và mất dần. Công tác này được tiến hành với sự hợp tác của Viện Nghiên cứu văn hoá với các địa phương, các nghệ nhân dân gian. Hệ thống đề tài này gồm 40 công trình; tiêu biểu như: Hương ước Hà Tây, Hương ước Hưng Yên, Hương ước Hà Tĩnh, Hương ước Thanh Hoá, Hương ước Thái Bình, Luật tục Thái, Luật tục Ê Đê, Luật tục Mơ Nông, Luật tục Jrai, Văn hoá dân gian làng biển Hương Cần, Văn hoá dân gian làng biển Đồ Sơn, Kho tàng tục ngữ, Kho tàng vè, Văn hoá dân gian Tày - Nùng...
c/ Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên
Tháng 3 năm 2001, Chính phủ thông qua Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên, giao cho Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) chủ trì, phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận cùng thực hiện. Đến tháng 11 cùng năm, Dự án được cấp kinh phí để triển khai. Ngày 8 tháng 7 năm 2004, Dự án được phê duyệt với thời gian thực hiện là từ năm 2001 đến năm 2007, kinh phí thực hiện là 17.325.000.000 đồng. GS. TS. Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam là Trưởng ban Ban Chỉ đạo Dự án. GS. TS. Ngô Đức Thịnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hoá là Giám đốc điều hành Dự án. Từ ngày 25 tháng 4 năm 2005, GS. TS. Nguyễn Xuân Kính, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hoá được cử giữ chức Giám đốc điều hành Dự án.
Mục tiêu, đối tượng điều tra, sưu tầm của Dự án là:
1. Tiến hành điều tra cơ bản vốn sử thi của 8 dân tộc: Ê Đê, Mơ Nông, Ra Glai, Ba Na, Xê Đăng, Xtiêng, Gia Rai, Chăm Hroi, tại các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Bình Phước, Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hoà; xác định danh mục tên các sử thi và danh sách các nghệ nhân tiêu biểu.
2. Sưu tầm về cơ bản các tác phẩm sử thi (cùng các dị bản), lập hồ sơ về nghệ nhân, xây dựng phim tư liệu về những nghệ nhân tiêu biểu.
3. Lưu giữ sử thi trong băng ghi âm.
4. Tiến hành văn bản hoá (phiên âm tiếng dân tộc, dịch ra tiếng Việt), chú giải sử thi Tây Nguyên một cách khoa học.
5. Biên tập văn học và xuất bản những tác phẩm tiêu biểu.
Sản phẩm của Dự án là:
1. Danh mục các tác phẩm sử thi của các dân tộc Tây Nguyên và phụ cận.
2. Danh sách các nghệ nhân còn khả năng diễn xướng sử thi.
3. Sưu tầm về cơ bản các tác phẩm sử thi truyền miệng của các dân tộc, ghi âm thành băng và đĩa CD - ROM để lưu giữ lâu dài. Dự kiến khoảng 200 tác phẩm sử thi của 8 dân tộc được sưu tầm, trong đó có các dân tộc Ê Đê, Mơ Nông, Ba Na, Gia Rai, Xê Đăng.
4. Phiên âm và biên dịch 100 tác phẩm sử thi.
5. Biên tập văn học 80 tác phẩm sử thi và xuất bản 75 tác phẩm sử thi, dưới dạng song ngữ tiếng dân tộc và tiếng phổ thông.
6. Hình thành kho tư liệu bảo quản kho tàng sử thi Tây Nguyên dưới dạng băng hình, băng tiếng, video, CD - ROM.
Tính đến tháng 4 năm 2006, Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên đã đạt được những kết quả dưới đây.
- Về công tác điều tra khảo sát, với lực lượng hàng trăm lượt cán bộ khoa học từ trung ương và cán bộ văn hoá, nghệ nhân địa phương đã tiến hành tổng điều tra sử thi trên địa bàn 8 tỉnh Tây Nguyên và phụ cận: Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Nông, Bình Phước, Ninh Thuận, Phú Yên. Tổng cộng các đoàn công tác đã điều tra, khảo sát hàng ngàn buôn, bon, plây thuộc 530 xã, phường, thị trấn của 56 huyện, thành phố. Đã lập danh sách hàng trăm tên tác phẩm sử thi, đã gặp gỡ, thống kê và lập hồ sơ về 363 nghệ nhân còn nhớ, hát kể các tác phẩm sử thi ở những mức độ khác nhau thuộc các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Xê Đăng, Mơ Nông, Xtiêng, Mạ, Ra Glai, Chăm Hơroi.
- Về kết quả sưu tầm, cho đến tháng 3 năm 2005, Văn phòng Dự án đã tiếp nhận 3.321 băng ghi âm (độ dài 90 phút, tương đương với 4.981 giờ hát kể của nghệ nhân), thuộc 513 tác phẩm đăng ký.
- Về công tác phiên âm, biên dịch và xuất bản, tính đến tháng 3 năm 2005, đã có 59 tác phẩm được phiên âm, trong đó 32 tác phẩm được biên dịch, 21 tác phẩm đã và đang được biên tập văn học. Đặc biệt là cuối năm 2004, ba tác phẩm sử thi đầu tiên của bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên được xuất bản với hình thức trang trọng (hai tác phẩm của người Mơ Nông, một tác phẩm của người Ra Glai). Ở mỗi tác phẩm đều có chân dung nghệ nhân, bài giới thiệu tác phẩm của người biên tập văn học, phần phiên âm tiếng dân tộc, bản dịch tiếng Việt và phần chú thích.
Cho đến nay, công tác điều tra, sưu tầm về cơ bản đã hoàn thành. Khó khăn lớn nhất nằm ở khâu phiên âm, phiên dịch và biên tập văn học. Chỉ xin nêu một vài thí dụ: Hiện nay đã sưu tầm được trên 100 tác phẩm sử thi của người Mơ Nông nhưng chỉ có một mình ông Điểu Kâu (đã trên 70 tuổi) có thể phiên âm và phiên dịch, đặc biệt đối với hơn 60 tác phẩm sử thi của người Gia Rai đã sưu tầm được, chưa có ai có thể đảm nhiệm được việc phiên âm và phiên dịch.
- Về công tác bảo tồn, bảo quản, song song với công tác điều tra, sưu tầm, công tác bảo quản các tư liệu hiện vật liên quan đến sử thi cũng đã và đang được tiến hành. Trước hết, hơn 3.000 băng ghi âm đang được chuyển sang đĩa từ để bảo quản lâu dài. Để bảo đảm công tác điều tra, sưu tầm, phiên âm, biên dịch và xuất bản có kết quả, Dự án đã triển khai công tác đào tạo cán bộ, đã tổ chức hai lớp về phương pháp điều tra, sưu tầm tại Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc) và Plây Ku (Gia Lai), với gần hai trăm người tham dự(3).
Từ cuối năm 2004 đến nay, Viện Nghiên cứu văn hoá phối hợp với Nhà xuất bản Khoa học xã hội và FAHASA Tp. Hồ Chí Minh đã công bố được 67 tác phẩm sử thi các của các dân tộc Mơ Nông, Ê Đê, Ra Glai, Chăm Hơroi, Ba Na, Xơ Đăng.
d/ Hệ thống các đề tài cấp bộ, nhiệm vụ cấp bộ, cấp Viện
- Hệ thống đề tài cấp bộ, nhiệm vụ cấp bộ gồm 9 công trình, tập trung vào một số mục tiêu chủ yếu: điều tra, sưu tầm di sản sử thi các dân tộc ở vùng Tây Nguyên; hệ thống hoá tư liệu đã sưu tầm và sưu tầm bổ sung văn hoá dân gian người Việt (Kinh); Sưu tầm có hệ thống và hệ thống hoá văn hoá dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, đặc biệt là dân tộc Tày - Nùng,... Tiêu biểu cho hệ thống đề tài này là các công trình: Phan Đăng Nhật chủ nhiệm (1994), Điều tra, sưu tầm, biên soạn sử thi các dân tộc thiểu số ở Đăk Lăk, Lê Hồng Lý chủ biên (1999), Nghề thủ công mĩ nghệ đồng bằng sông Hồng - Tiềm năng, thực trạng và một số kiến nghị, Nguyễn Quang Lê chủ biên (1999), Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trong xã hội hiện nay, Vũ Tố Hảo chủ biên (2002), Tinh thần yêu nước qua các thể loại văn học dân gian người Việt, Hà Đình Thành chủ biên (2003), Văn hoá dân gian Tày, Nùng ở Việt Nam, Nguyễn Xuân Kính chủ nhiệm (2005), Đánh giá chương trình và kiến thức văn học dân gian trong sách giáo khoa trung học và trong giáo trình đại học, Lê Văn Kỳ chủ nhiệm (2005), Phong tục tập quán cổ truyền một số dân tộc thiểu số Nam Tây Nguyên, Lê Hồng Lý chủ nhiệm (2005), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng,...
- Hệ thống đề tài viện được triển khai nhiều hơn, tập trung hơn vào những vấn đề cụ thể như: nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn, lễ hội, tín ngưỡng, phong tục, làng nghề thủ công truyền thống, ca dao, truyện cổ tích, sử thi, truyện ngụ ngôn... Hệ thống đề tài này gồm 98 công trình; tiêu biểu như: Hát văn (1989), Làng nghề Chàng Sơn (1991), Làng nghề Phù Khê (1991), Nghệ thuật biểu diễn Mường (1992), Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm (1992), Thi pháp ca dao (1993), Làng nghề chạm bạc Đồng Sâm (1993), Thờ phụng Thành hoàng làng ở Bắc Bộ (1994), Các tác gia nghiên cứu văn hoá dân gian (1994), Nghệ thuật biểu diễn truyền thống người Việt ở Hà Tây (1994), Tục thờ mẫu và các sinh hoạt văn hoá dân gian (1994), Lễ thức vòng đời người ở Hà Nội (1994), Đạo mẫu ở Việt Nam (1996), Tín ngưỡng dân gian và sinh hoạt văn hoá dân gian (1996), Khảo sát sự vận động của một số thể loại văn hoá dân gian (1996), Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam (1998), Cơm chay và cỗ chay nhà chùa Hà Nội (1998), Biểu tượng thực vật trong ca dao người Việt (2001), Làng nghề gốm: Quế (2001), Mối tương quan giữa nữ và nam qua ca dao (2001), Mẫu Liễu Hạnh với di tích đền Sòng, Phố Cát (2003), Ngôn ngữ ca dao trong sinh hoạt diễn xướng dân ca (2003), Bổ sung "Kho tàng tục ngữ người Việt" (2004), Khảo sát phong tục và nghi lễ truyền thống của người Ba Na ở làng Đê Kơ Tu (Kon Dỡng, Mang Yang, Gia Lai) (2004), Nghệ thuật tạo quân rối và múa rối nước làng Ra (2004),...
đ/ Hệ thống các luận án, luận văn thạc sĩ được các tác giả thực hiện theo hướng tiếp cận văn hoá dân gian là một chỉnh thể nguyên hợp, đề tài luận án, luận văn phản ánh đầy đủ các thể loại của khoa nghiên cứu văn hoá dân gian.
- 13 bản luận án tiến sĩ được thực hiện và đạt chất lượng tốt, tiêu biểu như: Phan Đăng Nhật (1980), Bước đường hình thành sử thi - Mo và sự hình thành tư tưởng cơ bản của tinh thần văn hoá Việt; Kiều Thu Hoạch (1991), Truyện Nôm, nguồn gốc và bản chất thể loại; Lê Văn Kỳ (1997), Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng; Phạm Minh Hạnh (1993), Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (thể loại và triển vọng), Tăng Kim Ngân (1994), Truyện cổ tích thần kỳ người Việt - đặc điểm cấu tạo cốt truyện; Đỗ Hồng Kỳ (1997), Sử thi thần thoại Mnông... Từ năm 2001, Viện Nghiên cứu văn hoá được Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ văn hoá dân gian. Năm 2005, có bốn nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn hoá học, chuyên ngành văn hoá dân gian: Gu Bon Seog (2005), So sánh nghi lễ lịch tiết và phong tục tiêu biểu hằng năm của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam và của người Hàn Quốc, Trương Thị Minh Hằng , Trương Thị Minh Hằng (2005), Gốm sành nâu ở Phù Lãng; Nguyễn Thị Yên (2005), Then Tày - nguồn gốc, bản chất và diễn xướng; Nguyễn Thị Phương Châm (2005), Nghi lễ hôn nhân của người Kinh ở Vạn Vĩ (Giang Bình, Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc). Sau 5 khoá tuyển sinh, Viện đang đào tạo 36 nghiên cứu sinh văn hoá dân gian.
- Cuối năm 1994, Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian (nay là Viện Nghiên cứu văn hoá) được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo cao học văn hoá dân gian (sau này là cao học văn hoá học). Từ đó, công tác đào tạo sau đại học được tăng cường và đẩy mạnh theo từng năm. Cho đến nay, Viện đã tuyển chọn được 12 khoá cao học và đào tạo được 180 học viên cao học. 103 học viên cao học đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ văn hoá học, trong đó có 91 học viên đã được cấp bằng thạc sĩ văn hoá học; đặc biệt Viện đã đào tạo khoá cao học gồm 12 học viên là người dân tộc thiểu số bản địa ở Tây Nguyên, từ cuối năm 2005 đến tháng 3 năm 2006, 12 học viện này đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ văn hoá học. Đây là nguồn cán bộ sẽ góp phần vào công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá các dân tộc Việt Nam. Tiêu biểu cho hệ thống này là những bản luận văn: Trương Thị Minh Hằng (1998), Làng gốm Phù Lãng, Ứng Duy Thịnh (2000), Kế thừa và phát huy múa dân gian trong kịch múa Việt Nam đương đại qua một số tác phẩm tiêu biểu, Nguyễn Lan Hương (2000), Làng nghề sơn quang Cát Đằng, Vàng Thung Chúng (2000), Một số phong tục tập quán và lễ hội cổ truyền của người Nùng Dín làng Tùng Lâu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, Lee Bo Yong (2001), Một số hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của người Việt ở làng Triều Khúc, Mai Kim Oanh (2001), Một số quy ước về phong tục tập quán trong hương ước xứ Nghệ, Nguyễn Vũ Phan (2001), Lễ cấp sắc của người Dao Đỏ ở bản Phia Chang xã Sơn Phú, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Vương Đắc Huy (2001), Di tích và lễ hội đền Kỳ Cùng, Lại Hồng Đăng (2001), Giá trị nhận thức và giáo dục của tục ngữ người Việt (trước năm 1975): Qua mảng tục ngữ về đạo lí nhân sinh, quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm, thầy trò, Lê Thị Thuý Hoàn (2001), Giá trị văn hoá của sưu tập tranh áp phích, cổ động giai đoạn 1946 - 1954 ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Trịnh Quốc Minh (2002), Di tích và lễ hội làng Đọ Xá Bắc Ninh, Nguyễn Thanh Thuỷ (2002), Bảo tồn - kế thừa nghệ thuật biểu diễn cổ truyền trong dạy và học đàn tranh, Ngô Thị Mỹ Hằng (2003), Cái hài trong tuồng dân gian, Chu Thơm (2003), Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong chèo cổ, Trang Thanh Hiền (2002), Hình tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn trong nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam, Nguyễn Thị Dậu (2003), Lễ hội truyền thống đền Đô Đình Bảng, Bắc Ninh, Nguyễn Hải Phong (2003), Một số đặc điểm về trang trí kiến trúc đình chùa ở đồng bằng Bắc Bộ, Nguyễn Xuân Thuỷ (2004), Ca trù ở Cổ Đạm, Trịnh Văn Cường (2004), Hội Gióng - truyền thống và sự biến đổi, Nguyễn Thị Ngọc Hà (2004), Mặt trái của tính cách người Việt được phản ánh qua tục ngữ, ca dao, Phạm Thị Trung (2005), Quan niệm về linh hồn người và những nghi lễ liên quan của người Xơ Teng (xã Tu Mơ Rông, huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum), Trung Thị Thu Thuỷ (2005), Nghi lễ nông nghiệp truyền thống của người Ba Na (làng Kon Jơdri, xã Đắc Rơ Wa, thị xã Kon Tum), Điểu Huỳnh Sang (2005), Một số phong tục tập quán cổ truyền của người Xtiêng (xã An Khương, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước), Y Chen Niê (2005), Nghi lễ vòng đời người của người Ê Đê Adham (ở buôn Triă, xã Êatul, huyện Cư Mgar, tỉnh Đắc Lắc), Y Tuyn Bing (2005), Tang lễ của người Mơ Nông Rlăm (ở Uôn Dlei, thị trấn Liên Sơn, huyện Lăk, tỉnh Đắc Lắc), Y Hồ (2005), Nghi lễ vòng đời người của người Ca Dong (làng Nước Cua, xã Ngọc Tum, huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum), v.v...
- Kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học: Viện Nghiên cứu văn hoá phối hợp với các ngành, các địa phương tổ chức hội thảo khoa học mang tính ứng dụng như: Văn hoá truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ (1997), Văn hoá các dòng họ ở Nghệ An với sự nghiệp thực hiện chiến lược con người Việt Nam đầu thế kỷ XIX (1997), Luật tục và phát triển nông thôn ở Việt Nam (1999), Hội thảo quốc gia về Ứng dụng luật tục, hương ước trong quản lý nông thôn đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay.... Từ năm 2001, Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian (nay là Viện Nghiên cứu văn hoá) đã mở Hội nghị thông báo văn hoá dân gian hằng năm, nhằm: thông tin, giới thiệu những hiện tượng, những tư liệu văn hoá dân gian mới phát hiện; thông tin những kết quả nghiên cứu mới nhất trong một lĩnh vực (hoặc trong một đề tài nghiên cứu) cụ thể; trình bày kinh nghiệm giảng dạy, hoặc nêu những điều cần tranh luận đối với một tác phẩm văn học, văn nghệ dân gian được giảng dạy trong nhà trường; giới thiệu tình hình nghiên cứu (mới nhất) về văn hoá dân gian ở nước ngoài. Tính đến năm 2007, Viện Nghiên cứu văn hoá đã mở 6 Hội nghị và tổ chức xuất bản 6 tập kỷ yếu các các hội nghị này.
Ngoài các nguồn tin khoa học kể trên, Viện Nghiên cứu văn hoá còn lưu trữ một số tài liệu nghe nhìn: phim, ảnh, băng từ, đĩa từ do Trung tâm nghe nhìn và Văn phòng Dự án sử thi Tây Nguyên lưu trữ.
Việc lưu trữ, bảo quản nguồn tin khoa học nội sinh này tương đối tốt tại các nơi như: Hội đồng khoa học; Thư viện, Phòng Quản lý khoa học và Đào tạo, Trung tâm nghe nhìn và Văn phòng Dự án sử thi Tây Nguyên. Việc khai thác, sử dụng nguồn tin này không phổ biến (trừ một số công trình đã xuất bản).
*
*        *
Việt Nam là quốc gia đa tộc người, nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, do vậy việc tìm hiểu bản sắc văn hoá các tộc người, tìm hiểu “tính thống nhất”, “mẫu số chung” của văn hoá các dân tộc sống trên đất nước ta có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần soi sáng con đường đi của chúng ta trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây cũng là sức mạnh nội lực của đất nước trong quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá hiện nay.
Phần lớn các công trình kể trên đã biết kết hợp giữa công tác sưu tầm và nghiên cứu. Một số công trình đạt chất lượng khoa học cao về khoa học và có ý nghĩa thực tiễn được xã hội chú ý. Nhiều công trình đã được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trao giải thưởng Văn nghệ dân gian hằng năm như: Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh (Nguyễn Đổng Chi chủ biên); Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật đồng chủ biên); Từ điển văn hoá dân gian (Kiều Thu Hoạch chủ biên); Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng của tác giả Lê Văn Kỳ, Các làng nghề chạm gỗ (Lê Hồng Lý chủ biên)(4), v.v... Một số công trình đã được xuất bản, góp phần bảo tồn vốn văn hoá của các tộc người ở Việt Nam.
Nhân đây, chúng tôi xin kiến nghị một số vấn đề:
1. Viện Nghiên cứu văn hoá cần có kế hoạch xây dựng hệ thống bảo quản, lưu trữ nguồn tin khoa học nội sinh của Viện một cách đồng bộ, có hệ thống; cần ban hành quy chế cho phép khai thác, sử dụng nguồn tin khoa học nội sinh của Viện;
2. Huy động cán bộ nghiên cứu của Viện tham gia nhiều hơn nữa vào các hoạt động khoa học như: điều tra điền dã, sưu tầm và lựa chọn tư liệu phục vụ cho công tác khoa học của mình và làm phong phú cho hệ thống tư liệu về văn hoá - văn hoá dân gian của Viện;
3. Tổ chức biên soạn thư mục của nguồn tin khoa học nội sinh theo các hướng nghiên cứu của Viện;
4. Bước đầu xây dựng thư viện điện tử, xây dựng các cơ sở dữ liệu theo định hướng nghiên cứu của Viện; xây dựng trang Web của Viện Nghiên cứu văn hoá;
5. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và kỹ thuật thông tin.
 
 Chú thích:
(1) Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian (1999), “Lời nói đầu”, in trong Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian - 20 năm xây dựng và phát triển 1979 - 1999, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.7.
(2) Cùng với các công trình: Văn học dân gian (tập I, II), Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á, Văn hoá dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam. Năm 1996, GS. Đinh Gia Khánh được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
(3) Dẫn theo GS. Nguyễn Xuân Kính, tài liệu họp báo giới thiệu 16 tác phẩm sử thi lần đầu tiên được công bố do Công ti cổ phần phát hành sách thành phố Hồ Chí Minh (FAHASA) phối hợp với Viện Nghiên cứu văn hoá tổ chức vào ngày 15 tháng 3 năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh.
(4) Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (2000), Kỷ yếu Đại hội IV, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam xb, Hà Nội.
Các tin đã đưa ngày: