Lịch sử hình thành


GS. TS. NGUYỄN XUÂN KÍNH
(Tổng biên tập Tạp chí Văn hoá dân gian)
 
1. Ngày 26 tháng 12 năm 1979, Ban Văn hoá dân gian (thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam) được thành lập. Trong gần bốn năm, Ban Văn hoá dân gian đã thu hút được một lực lượng cán bộ khoa học đáng kể, đã xây dựng phương hướng công tác và thực hiện một hệ thống đề tài khoa học. Trên cơ sở của nhu cầu công tác và khả năng của đội ngũ cán bộ, ngày 26 tháng 01 năm 1983, Ban Tuyên huấn trung ương, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Văn hoá đã cho phép xuất bản Tạp chí Văn hoá dân gian. Trong lời nói đầu của số đầu tiên, Tạp chí đã nêu rõ mục đích của mình là góp phần vào việc xây dựng khoa nghiên cứu văn hoá dân gian bằng cách góp phần ghi nhận những kết quả đã thu hoạch được của giới nghiên cứu văn hoá dân gian. Tạp chí Văn hoá dân gian một mặt sẽ đăng những bài nghiên cứu học thuật và mặt khác giới thiệu những tác phẩm văn hoá dân gian hay, mới phát hiện hoặc đã được phát hiện từ trước nhưng chưa được phổ biến tới đông đảo bạn đọc. Nhằm góp phần thúc đẩy bước tiến của giới văn hoá dân gian về mặt nghiên cứu khoa học cũng như nghiên cứu thực tiễn, Tạp chí Văn hoá dân gian sẽ tổ chức việc trao đổi kinh nghiệm về các vấn đề sưu tầm, nghiên cứu và sử dụng vốn văn hoá dân gian, giảng dạy, đào tạo và tổ chức đội ngũ những người làm công tác văn hoá dân gian. Nhằm góp phần vào việc thông tin khoa học chuyên ngành, Tạp chí Văn hoá dân gian sẽ thường kì đăng những tin tức về hoạt động văn hoá dân gian ở trong nước và mỗi khi cần thiết sẽ thông báo tình hình hoạt động văn hoá dân gian ở nước ngoài.(1)
Theo giấy phép xuất bản, Tạp chí sẽ ra ba tháng một kì, mỗi số gồm 80 trang, khổ 19x27cm. Từ năm 2001 đến nay, Tạp chí xin ra hai tháng một kì, mỗi số gồm 80 trang, khổ 19x27cm. Đến số 4 (tháng 7 + 8) năm 2005, Tạp chí ra được tròn 100 số.
2. Từ tháng 1 năm 1983 đến hết tháng 2 năm 1992, GS. Đinh Gia Khánh làm Tổng biên tập. Từ năm 1985 đến tháng 2 năm 1991, GS. TSKH. Phan Đăng Nhật làm Phó Tổng biên tập. Từ tháng 2 năm 1991 đến ngày 11 tháng 7 năm 1994, GS. TS. Kiều Thu Hoạch được bổ nhiệm làm Phó Tổng biên tập, rồi quyền Tổng biên tập. Từ ngày 12 tháng 7 năm 1994 đến tháng 12 năm 1999, GS. TS. Kiều Thu Hoạch làm Tổng biên tập. Từ tháng 1 năm 2000 đến ngày 15 tháng 7 năm 2005, GS. TS. Ngô Đức Thịnh làm Tổng biên tập. Từ tháng 9 năm 1996 đến ngày 26 tháng 7 năm 2005, GS. TS. Nguyễn Xuân Kính làm Phó Tổng biên tập. Từ ngày 27 tháng 7 năm 2005, GS. TS. Nguyễn Xuân Kính được bổ nhiệm làm Tổng biên tập.
Hội đồng biên tập hiện nay gồm có: GS. TS. Nguyễn Xuân Kính, Chủ tịch; các Uỷ viên: PGS. Chu Xuân Diên, PGS. TS. Nguyễn Bích Hà, GS. TS. Kiều Thu Hoạch, TS. Đỗ Hồng Kỳ, PGS. TS. Lê Hồng Lý, GS. TSKH. Phan Đăng Nhật, PGS. TSKH. Bùi Mạnh Nhị, GS. TSKH. Tô Ngọc Thanh, GS. TS. Ngô Đức Thịnh, PGS. TS. Võ Quang Trọng.
Phòng Toà soạn - Trị sự gồm có Thạc sĩ Trịnh Đình Niên, Trưởng phòng; Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Châm và Cử nhân Phan Thị Hoa Lý.(2)
3. Trong quan hệ với Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian trước đây và Viện Nghiên cứu văn hoá hiện nay, Tạp chí Văn hoá dân gian vừa là cơ quan ngôn luận của Viện, vừa là diễn đàn khoa học của ngành và của bạn đọc quan tâm. Theo quy định hiện nay, Tạp chí Văn hoá dân gian được tổ chức và hoạt động theo Giấy phép hoạt động báo chí, Luật Báo chí, các văn bản pháp quy khác về báo chí, Quy chế về tổ chức và hoạt động của các tạp chí thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam(3).Vì mối quan hệ như vậy cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi biết rằng, Tạp chí Văn hoá dân gian có quyết định thành lập từ ngày 26 tháng 1 năm 1983; còn đến ngày 9 tháng 9 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng mới ra Nghị định thành lập Viện Văn hoá dân gian thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam. Ngày 22 tháng 5 năm 1993, Chính phủ ra Nghị định số 23/CP về việc thành lập Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia. Trong số 16 viện nghiên cứu khoa học trực thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Văn hoá dân gian được đổi tên thành Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian. Ngày 15 tháng 1 năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số 26/2004/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Theo Nghị định này, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia được đổi tên thành Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Trong 27 tổ chức nghiên cứu khoa học trực thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian được chuyển thành Viện Nghiên cứu văn hoá. Như vậy, kể từ Ban Văn hoá dân gian (cuối năm 1979) cho đến nay, Ban đã được nâng lên thành Viện, Viện đã hai lần đổi tên, thậm chí ở lần sau, Viện được giao nhiệm vụ mở rộng về phạm vi, đối tượng nghiên cứu. Trong khi đó, từ tháng 1 năm 1983 đến nay, về cơ bản Tạp chí Văn hoá dân gian vẫn là cơ quan chuyên ngành về văn hoá dân gian.
4. Từ năm 1983 đến năm 1989, Tạp chí Văn hoá dân gian gặp không ít khó khăn. Toà soạn không có phòng riêng để làm việc, để tiếp cộng tác viên. Tạp chí không ra được đúng hạn và không tìm được cơ sở in ổn định. Số 1 năm 1983 in tại Xí nghiệp in Báo Hà Nội mới, đáng lẽ phát hành chậm nhất vào tháng 3 thì đến tháng 11 cùng năm mới in xong. Số 2 năm 1983 in tại Xí nghiệp in tỉnh Vĩnh Phú, in xong và nộp lưu chiểu vào tháng 4 năm 1984; chậm 10 tháng. Hai số 3 và 4 của năm 1983 phải in gộp làm một, in tại Xí nghiệp in Tổng cục Hậu cần và nộp lưu chiểu vào tháng 7 năm 1984; chậm 7 tháng. Số 1 năm 1984 in ở Nhà in Báo Nhân Dân, nộp lưu chiểu tháng 9 năm 1984; chậm 6 tháng. Số 2 năm 1984 in ở Nhà in Báo Nhân Dân, nộp lưu chiểu tháng 11 năm 1984; chậm 5 tháng. Số 3 in ở Nhà in Báo Nhân Dân, nộp lưu chiểu ngày 15 tháng 3 năm 1985; chậm 5 tháng rưỡi. Số 4 năm 1984 in ở Nhà in Báo Nhân Dân, nộp lưu chiểu tháng 2 năm 1985; chậm 2 tháng(4). Từ số 1 năm 1985 đến số 2 năm 1989, Tạp chí đều in ở Nhà in Khoa học xã hội, 240 Nguyễn Trọng Tuyển (thành phố Hồ Chí Minh). Từ số 3 năm 1989 đến nay, Tạp chí lại tiếp tục in ở Hà Nội. Bắt đầu từ số 1 năm 1990 trở đi, Tạp chí mới chấm dứt được thời kì khó khăn về in ấn, mới ra mắt bạn đọc đúng thời hạn, cũng chấm dứt tình trạng in hai số gộp làm một. Còn trước đó, có số như số 4 năm 1989 phải in xêlen, nhiều số không đảm bảo số trang; thí dụ số 1 và số 2 năm 1988 in gộp lại chỉ có 86 trang, số 3 và 4 năm 1988 in gộp lại chỉ có 84 trang, số 1 năm 1989 chỉ có 46 trang, số 2 năm 1989 chỉ có 49 trang. Ở lời “Cùng bạn đọc” in trong số 1 năm 1989, trong nhiều cải tiến “trong tinh thần đổi mới và để phục vụ bạn đọc tốt hơn”, có việc “để thuận tiện hơn cho việc tiến hành, Tạp chí tuy vẫn giữ nguyên khổ giấy nhưng có giảm số trang”.(5) Ai cũng biết đây là cách giải thích, cách nói có phần làm sang của người nghèo, nó gợi nhớ đến những câu thơ than nghèo của Tú Xương mỗi dịp Tết đến Xuân về:
      Bánh chưng sắp gói e nồm chảy
      Giò lụa toan làm sợ nắng thiu.
Ai cũng biết phải ra chậm, phải rút bớt số trang, phải in gộp hai số làm một là vạn bất đắc dĩ trong tình hình cả nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Chúng tôi không bao giờ quên trong những năm đầu, GS. Đinh Gia Khánh, GS. Phan Đăng Nhật và Hoạ sĩ Đặng Đức đã rất vất vả, phải chạy lo in từng số tạp chí. Giấy in khan hiếm, phải mua theo tiêu chuẩn như một thứ hàng phân phối. Vì vậy, có lúc cơ quan đã phải mua giấy phân phối đem về để ở trụ sở nhà E1 Bách Khoa, Hà Nội rồi sau đó đem thuê in.
Trong những số đầu của Tạp chí, trong mối quan hệ gắn bó đặc biệt giữa Viện và Hội, Nhà thơ Xuân Thiêm (Phó Tổng Thư kí Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam) cùng với Nhà văn Hoàng Thao đã có những đóng góp tích cực, giúp GS. Đinh Gia Khánh tháo gỡ khó khăn. Thực hiện công việc trị sự, đọc bông, lo in và phát hành trong những năm đầu có các đồng chí Nguyễn Thuý Loan, Hồ Việt Quang, Trịnh Đình Niên.  
Có một lần, bằng nỗ lực vượt bậc, Tạp chí ra số phụ san phát hành trong dịp Tết. Phụ san này gồm những bài viết ngắn, dễ hiểu, hướng tới bạn đọc rộng rãi, bên cạnh mục đích chuyên môn, có cả mục đích làm kinh tế. Kết quả là, với mục đích sau, chúng ta hoàn toàn thất bại.
5. Tuy khó khăn, thử thách là không ít, nhưng cho đến nay về cơ bản Tạp chí Văn hoá dân gian đã thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích.
Trong 100 số tạp chí, nếu sắp xếp theo bảy mảng chuyên mục như cách phân loại của Thạc sĩ Trịnh Đình Niên, tình hình bài viết được phân bố như sau:
1. Những vấn đề chung (bao gồm văn hoá và văn hoá dân gian: 323 bài
2. Ngữ văn dân gian: 566 bài
3. Lễ hội, tín ngưỡng, phong tục: 271 bài
4. Nghệ thuật tạo hình dân gian: 162 bài
5. Nghệ thuật biểu diễn dân gian: 174 bài
6. Tri thức dân gian: 49 bài
7. Đọc sách, điểm sách: 68 bài
Tổng cộng gồm: 1613 bài(6)
Trong 100 số tạp chí đã xuất bản, có những số chuyên đề hoặc có nội dung trọng tâm. Thí dụ:
+ 1983, số 2: Văn hoá dân gian về thời Hùng Vương;
+ 1984, số 1: Lễ hội dân gian;
+ 1984, số 3: Nghệ thuật tạo hình dân gian;
+ 1984, số 4: Nghệ thuật biểu diễn dân gian;
+ 1990, số 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn hoá dân gian;
+ 1990, số 2: Văn hoá dân gian và du lịch;
+ 1990, số 3: Văn hoá dân gian và nhà trường;
+ 1990, số 4: Văn hoá dân gian ở Hà Sơn Bình;
+ 1991, số 3: Thi pháp văn hoá dân gian;
+ 1992, số 3: Văn hoá dân gian các dân tộc ít người;
+ 1997, số 1: Văn hoá dân gian ở Lào Cai;
+ 1997, số 3: Văn hoá dân gian ở Nghệ An;
+ 1997, số 4: Văn hoá dân gian ở Thái Bình;
+ 1999, số 4: Kỉ niệm 20 năm thành lập Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian;
+ 2000, số 1: Luật tục và hương ước;
+ 2000, số 3: Văn hoá dân gian làng ven biển;
+ 2001, số 2: Một thế kỉ sưu tầm, nghiên cứu văn hoá, văn nghệ dân gian Việt Nam;
+ 2001, số 3: Văn học dân gian và nhà trường;
+ 2001, số 4: Đạo Mẫu và shaman giáo.
6. Văn hoá dân gian là một thực thể bao gồm văn hoá dân gian cổ truyền và văn hoá dân gian hiện đại. Để có thể hiểu biết tốt hơn về đối tượng này, nhà nghiên cứu cần trang bị cho mình những kiến thức về văn hoá (rộng hơn văn hoá dân gian). Thêm nữa, giữa văn hoá dân gian và văn hoá cũng có mối quan hệ hữu cơ. Chính vì vậy, từ nhiều năm trước, Tạp chí Văn hoá dân gian đã công bố những bài viết về các đối tượng rộng hơn phạm vi văn hoá dân gian, thí dụ các bài Văn hoá: truyền thống và cách tân (số 4 năm 1987), Tinh thần cởi mở và năng động của văn hoá Việt Nam (số 1 năm 1990) của GS. Đinh Gia Khánh, bài Việt Nam và biển Đông (số 3 năm 2000) của GS. Trần Quốc Vượng, bài Vài suy nghĩ bước đầu trong quá trình nhận thức lại về chủ nghĩa xã hội (số 3 + 4 năm 1988) của GS. Phạm Như Cương, các bài Quá trình chuyển đổi cấu trúc văn hoá truyền thống và hình thành văn hoá Việt Nam (số 3 năm 1987), Nghiên cứu vùng văn hoá khuynh hướng và các vấn đề (số 3 năm 1989) của GS. TS. Ngô Đức Thịnh, bài Việt Nam, một chặng đường nghiên cứu văn hoá trong Thập kỉ thế giới phát triển văn hoá (số 4 năm 1997) của GS. TS. Nguyễn Xuân Kính, bài Vai trò của tri thức lịch sử trong mối quan hệ, giao lưu văn hoá quốc tế (số 3 năm 1996) của GS. Phan Ngọc Liên và TS. Nguyễn Quang Lê, bài Điểm lại vài nét về quá trình hình thành và phát triển nhân cách văn hoá Việt Nam trong lịch sử (số 3 năm 1993) của Nguyễn Việt Nga, bài Giới hạn trí nhớ trực tiếp của con người và những biểu hiện của nó trong văn hoá (số 3 + 4 năm 1985) của Bùi Đình Mỹ,...
Như vậy, sau khi Viện chuyển thành Viện Nghiên cứu văn hoá, bên cạnh việc công bố các bài viết về văn hoá dân gian, việc Tạp chí Văn hoá dân gian dành một tỉ lệ thích hợp cho việc đăng tải các bài viết về đối tượng rộng hơn phạm vi văn hoá dân gian là việc làm nối tiếp một truyền thống đã có từ trước.
7. Từ năm 1983 đến nay, Tạp chí Văn hoá dân gian đã đi được một chặng đường dài, đã có những đóng góp nhất định cho khoa nghiên cứu văn hoá dân gian, cho việc nghiên cứu văn hoá nói chung. Trong những năm gần đây, Tạp chí đã ổn định được các chuyên mục thường xuyên, đã công bố nhiều bài viết có chất lượng khoa học, hình thức trình bày đã tạo nên một dáng vẻ riêng trong sự phong phú, đa dạng của hàng trăm tờ tạp chí của cả nước. Về hạn chế, vẫn còn một số bài chất lượng khoa học chưa cao, lỗi in vẫn còn, cá biệt có số đã in sai cả ảnh bìa 1, công tác phát hành chưa đem lại được kết quả như mong muốn. Nhìn lại 100 số tạp chí là dịp chúng ta trân trọng ghi nhận công sức của những người khai phá, biết ơn sự cộng tác của các nhà chuyên môn trong và ngoài viện, ghi nhận những thành tựu đã đạt được và nhận thức thêm một lần nữa những hạn chế, những chỗ bất cập để cùng nhau làm việc tốt hơn, để Tạp chí Văn hoá dân gian ngày càng đáp ứng được sự quan tâm và mong mỏi của các nhà nghiên cứu và bạn đọc.
N.X.K
(1)   Tạp chí Văn hoá dân gian (1983), số 1, bài Cùng bạn đọc, tr. 5 - 6.
(2)   Chức danh khoa học của các vị đang đề cập là tính đến thời điểm hiện nay.
(3)   Quy chế về tổ chức và hoạt động báo chí của các tạp chí thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2005.
(4)   Ở đây, chúng tôi nói về thời gian nộp lưu chiểu ghi trên tạp chí, còn thời gian nộp lưu chiểu trong thực tế còn chậm hơn.
(5)   Tạp chí Văn hoá dân gian (1989), số 1, bài Cùng bạn đọc, tr. 2.
(6)   Chúng tôi sử dụng kết quả thống kê của Thạc sĩ Trịnh Đình Niên trong Tổng mục lục Tạp chí Văn hoá dân gian (1983- 2003), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004 và thống kê thêm các bài từ năm 2004 đến nay. Mỗi bài chỉ xếp ở một mục chủ đề.
(Theo: Tạp chí Văn hoá dân gian, Hà Nội, 2005, số 4)