Thành tựu và định hướng phát triển của Viện Nghiên cứu Văn hóa

11/08/2019

       Thành tựu trong hoạt động khoa học
       Trên chặng đường 40 năm hình thành, đổi mới và phát triển, Viện Nghiên cứu Văn hóa đã đạt được nhiều thành tựu nghiên cứu lớn, đem lại những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa của Việt Nam, bao gồm: 1) Xây dựng cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của ngành; 2) Nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn các công trình chuyên sâu về văn hóa dân gian; 3) Mở rộng đối tượng, phạm vi và xây dựng hướng tiếp cận trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa;  4) Triển khai các đề tài phục vụ tư vấn chính sách về văn hóa và phát triển bền vững; 5) Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nghiên cứu văn hóa dân gian và văn hóa học.
        1. Xây dựng cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của ngành văn hóa dân gian
       Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu là tiền đề quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của một ngành khoa học. Nhận thức được tầm quan trọng này, ngay sau khi Ban Văn hóa dân gian và sau đó là Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian được thành lập, Ban lãnh đạo và các thế hệ các nhà nghiên cứu của Viện đã tập trung nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho chuyên ngành khoa học còn non trẻ này ở Việt Nam nhằm xác định các hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, làm rõ mục đích, đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra đối với khoa nghiên cứu văn hóa dân gian. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực này bao gồm: Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian (Đinh Gia Khánh, 1989), Văn hóa dân gian - những phương pháp nghiên cứu (Nhiều tác giả 1990), Văn hóa dân gian - những lĩnh vực nghiên cứu (Nhiều tác giả 1989), Quan niệm về folklore (Ngô Đức Thịnh chủ biên 1990), Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt Nam (Vũ Ngọc Khánh 1991), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á (Đinh Gia Khánh 1993), Từ vựng thuật ngữ folklore Việt Nam (Vũ Ngọc Khánh 1995),  Folklore thế giới - một số công trình nghiên cứu cơ bản (Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan 2005), vv...
       Trong số những công trình kể trên, Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian của Giáo sư Đinh Gia Khánh, Viện trưởng đầu tiên của Viện, có thể nói, có đóng góp quan trọng nhất, trở thành cuốn sách "gối đầu giường" cho giới nghiên cứu văn hóa dân gian ở Việt Nam. Trong công trình này, bên cạnh việc giới thiệu về lịch sử hình thành của ngành Folklore học thế giới, nội dung của cuốn sách đã đi sâu bàn luận khái niệm, các thành tố, đặc điểm của folklore và phương pháp luận folklore. Những nhận định về "tính nguyên hợp" của văn hóa dân gian, hay việc xác định các thành tố chính của văn hóa dân gian là "nghệ thuật tạo hình dân gian", "nghệ thuật biểu diễn dân gian", "nghệ thuật ngữ văn dân gian" và “hội lễ dân gian” được nhấn mạnh trong công trình này hiện vẫn còn nguyên giá trị, trở thành nền tảng lý luận căn bản cho các nghiên cứu về văn hóa dân gian của các cán bộ nghiên cứu của Viện cũng như giới nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam. Với những đóng góp to lớn về mặt lý luận cho ngành như vậy, Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian nằm trong cụm công trình của GS. Đinh Gia Khánh được Chủ tịch Nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ đợt I (năm 1996). Hai công trình tập thể và 2 cuốn sách của GS. TS. Ngô Đức Thịnh và PGS. Vũ Ngọc Khánh đi sâu tổng kết, làm rõ các khái niệm, đối tượng, phương pháp nghiên cứu của khoa nghiên cứu văn hóa dân gian. Trong khi cuốn sách của GS. TS. Ngô Đức Thịnh hệ thống hoá các khái niệm mang tính lý thuyết về folkore học của Việt Nam và thế giới, cuốn sách về phương pháp nghiên cứu của tập thể các nhà nghiên cứu của Viện chỉ ra những phương pháp nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực nghiên cứu folklore như phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại, phương pháp sử dụng bản đồ, phương pháp thống kê, phương pháp loại hình học, phương pháp sưu tầm... Trong Dẫn luận về nghiên cứu folklore,  PGS. Vũ Ngọc Khánh đã phân tích các thành tố văn hóa dân gian, trình bày về tâm thức Việt Nam, ứng xử Việt Nam qua folklore. Cuốn sách Folklore thế giới- một số công trình nghiên cứu cơ bản do GS. TS. Ngô Đức Thịnh và GS.TS. Frank Proschan chủ biên đã tập hợp các chương, bài từ gần 20 công trình nghiên cứu khác nhau đã được công bố ở Anh, Pháp, Đức, Nga.... nhằm mục đích giới thiệu các công trình mang tính lý luận trong nghiên cứu folklore của các nhà nghiên cứu thế giới cho giới nghiên cứu folkore Việt Nam.
       2. Nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn các công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hoá dân gian Việt Nam
       Song song với việc xuất bản các công trình mang tính lý luận, đặt nền tảng về phương pháp và hướng tiếp cận nghiên cứu văn hoá dân gian ở Việt Nam, thế hệ các nhà khoa học của Viện đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn các công trình nghiên cứu chuyên sâu về 1) các thành tố văn hoá dân gian và 2) văn hoá dân gian theo dạng tổng thể, nguyên hợp của các nhóm tộc người, các vùng miền.
       Các công trình nghiên cứu, sưu tầm về từng thành tố văn hoá dân gian 
       Thuộc hướng các công trình nghiên cứu về các thành tố văn hoá dân gian, trước hết, phải kể đến các công trình nghiên cứu về thực hành tín ngưỡng, lễ hội truyền thống cũng như đương đại của người Việt và các tộc người thiểu số. Trong so sánh với việc nghiên cứu các thành tố văn hoá dân gian khác, mảng nghiên cứu về tín ngưỡng, lễ hội dân gian đạt được nhiều thành tựu, thể hiện ở số lượng các công trình đã xuất bản. Tiêu biểu trong số này có thể kể đến các công trình Lễ hội cổ truyền (Lê Trung Vũ chủ biên 1992), Tứ bất tử (Ngô Đức Thịnh chủ biên 1990), Đạo Mẫu ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 2 tập, 1996), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh chủ biên 2001), Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ (Nguyễn Quang Lê chủ biên 2001), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng (Lê Hồng Lý 2008), Lễ hội cổ truyền (Lê Trung Vũ chủ biên 1992), Lễ hội truyền thống trong xã hội đương đại (Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng chủ biên 1994), Tín ngưỡng làng xã (Vũ Ngọc Khánh 1994), Tết cổ truyền người Việt (Lê Trung Vũ chủ biên 1996), Nghi lễ vòng đời người (Lê Trung Vũ chủ biên 1999), Hero and Deity: Tran Hung Dao and the Resurgence of Popular religion [Anh hùng và thần linh: Trần Hưng Đạo và sự trỗi dậy của tôn giáo dân gian ở Việt Nam] (Phạm Quỳnh Phương 2009), Lễ hội Nàng Hai của người Tày Cao Bằng (Nguyễn Thị Yên 2011) Nhận diện bản sắc văn hoá qua lễ hội truyền thống (Nguyễn Quang Lê 2011), Lễ hội Việt Nam (Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý đồng chủ biên 2005), Lễ hội lịch sử ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ (Lê Hồng Lý chủ biên 2011), Nghi lễ hôn nhân của người Kinh ở Trung Quốc (Qua trường hợp làng Vạn Vĩ, Giang Bình, Đông Hưng, Quảng Tây (Nguyễn Thị Phương Châm 2006), Giáo trình lễ hội dân gian (Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm 2014), Nghi lễ nông nghiệp của người Xơ Teng ở huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum (A Tuấn 2015), Then giải hạn của người Thái Trắng ở thị xã Mương Lay, tỉnh Điện Biên (Nguyễn Thị Yên 2016), Then Tày (Nguyễn Thị Yên 2006), Lễ cấp sắc Pụt Nùng (Nguyễn Thị Yên, Nguyễn Thiên Tứ 2006), Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở Việt Nam (Phan Thị Hoa Lý 2018), v.v... Ở chủ đề nghiên cứu này, ngoài các công trình tiếp cận miêu tả, phân tích về cấu trúc, bản chất, ý nghĩa và chức năng của tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, nhiều công trình đã quan tâm đến những biến đổi cũng như động thái của tín ngưỡng, lễ hội các tộc người trong bối cảnh xã hội chuyển đổi. Có thể nói, ở mảng nghiên cứu tín ngưỡng, lễ hội, nhiều công trình nghiên cứu của Viện đã đặt nền tảng, trở thành cơ sở lý luận cho lĩnh vực nghiên cứu về nghi lễ và lễ hội trong ngành nghiên cứu văn hoá và văn hoá dân gian ở Việt Nam.
       Đóng vai trò là thành tố quan trọng của văn hoá dân gian, trong chặng đường 40 năm hoạt động khoa học của Viện, các thể loại Văn học dân gian của người Việt và các tộc người thiểu số như truyền thuyết, truyện cổ tích, sử thi, tục ngữ, cao dao, vè, vv..., được các nhà khoa học của Viện dành nhiều công sức sưu tầm, nghiên cứu và đạt được thành tựu nổi bật. Bên cạnh việc chủ trì sưu tầm, biên soạn và xuất bản 5  bộ sách công cụ lớn là  Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, 4 tập, 1995), Kho tàng tục ngữ người Việt (Nguyễn Xuân Kính chủ biên, 2 tập, 2002), bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt (Nguyễn Xuân Kính và các tác giả biên soạn từ 2002 - 2006, 19 tập, 20 quyển), Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (Nguyễn Xuân Kính và các tác giả biên soạn từ 2007 - 2010, 23 tập) và Kho tàng sử thi Tây Nguyên  (Viện Nghiên cứu Văn hóa sưu tầm, điều tra và xuất bản từ 2004 - 2011, 91 tập), các cán bộ của Viện còn xuất bản nhiều công trình chuyên sâu về văn học dân gian. Tiêu biểu trong số này là Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân Kính 2004), Truyện Nôm nguồn gốc và bản chất thể loại, (Kiều Thu Hoạch chủ biên 1993), Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi hiện đại Việt Nam (Võ Quang Trọng 1997), Sử thi Ê Đê (Phan Đăng Nhật 1991), Cổ tích thần kì người Việt: đặc điểm cấu tạo và cố truyện (Tăng Kim Ngân 1994), Sử thi thần thoại M'Nông (Đỗ Hồng Kỳ 1996), Nghiên cứu sử thi Việt Nam (Phan Đăng Nhật 2001), Vùng sử thi Tây Nguyên (Phan Đăng Nhật 1999), Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới: thể loại và triển vọng (Phạm Minh Hạnh 1993), Thiên nhiên trong ca dao trữ tình đồng bằng Bắc Bộ (Đặng Diệu Trang 2010), So sánh ca dao người Việt ở Xứ Nghệ và xứ Bắc (Nguyễn Phương Châm 2011), Ngôn ngữ và thể thơ ca dao người Việt ở Nam Bộ (Nguyễn Thị Phương Châm 2013), So sánh thể thơ lục bát trong ca dao và thể thơ lục bát trong phong trào thơ mới (Đặng Diệu Trang 2014), Sử thi Ba Na và số phận trong xã hội đương đại (Lê Thị Thuỳ Ly 2016), v.v...
       Các công trình tiêu biểu nêu trên cho thấy rõ hai khuynh hướng nghiên cứu văn học dân gian của Viện, đó là hướng xem xét văn học dân gian như là đối tượng của khoa nghiên cứu văn học và khuynh hướng coi văn học dân gian như là một thành tố mang tính chỉnh thể của văn hoá dân gian. Cho dù được tiếp cận theo hướng nào thì mảng nghiên cứu văn học dân gian của các nhà khoa học trong Viện đã đem lại những thành quả nghiên cứu lớn, góp phần vào sự phát triển của cơ sở lý luận và cung cấp những hiểu biết sâu rộng về nền văn học dân gian phong phú và đa dạng của các tộc người ở Việt Nam.
       Một thành tựu nghiên cứu lớn khác thuộc hướng nghiên cứu về thành tố văn hoá dân gian là các công trình nghiên cứu về nghệ thuật biểu diễn dân gian, bao gồm múa, âm nhạc và trò chơi gian. Trong lĩnh vực nghiên cứu về múa dân gian, các cuốn sách Khái luận nghệ thuật múa (Lê Ngọc Canh, 1997), Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam (Lê Ngọc Canh 1998), Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải 1995), Nghệ thuật múa Chăm (Lê Ngọc Canh 1982), v.v... đã trở thành các cuốn sách mang tính lý luận, đặt nền tảng cho hướng tiếp cận nghiên cứu cũng như giáo trình giảng dạy cho lĩnh vực nghiên cứu này. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về âm nhạc dân gian có thể kể đến Nhạc cụ gõ cổ truyền Việt Nam (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải 1989), Nghi lễ và âm nhạc nghi lễ của ngừoi Jrai (Tô Đông Hải 2002) Cồng chiêng Mường (Kiều Trung Sơn 2011), Nghệ thuật diễn xướng Mo Mường (Kiều Trung Sơn 2016), Sử thi Ê Đê hiện nay: Nghệ nhân và việc trao truyền nghệ thuật diễn xướng (Kiều Trung Sơn 2018), Hát thờ trong lễ hội đình của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ (Lê Cẩm Ly 2014), Lời hát nghi lễ qua sách Nôm Tày ở vùng Ba Bể (Nguyễn Thị Yên chủ biên 2007), Rối nước ở đồng bằng Bắc Bộ, sự phục hồi từ đổi mới đến nay (Vũ Tú Quỳnh 2014), Những lời ca của người Kinh (sưu tầm ở Kinh Đảo, Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc) (Nguyễn Thị Phương Châm, Tô Duy Phương 2015), Múa rối nước dân gian làng Ra (Vũ Tú Quỳnh 2015), Nghệ thuật quan họ làng Viêm Xá (Trần Chính 2000), Hát văn (Ngô Đức Thịnh chủ biên 1992), Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải 1995).
       Một thành tố văn hoá dân gian khác được các cán bộ của Viện tiến hành nghiên cứu, sưu tầm và xuất bản là hương ước của người Việt và luật tục của các tộc người thiểu số ở Tây Bắc và Tây Nguyên. Cuốn sách xuất bản sớm nhất về thành tố này là cuốn Hương ước Hà Tĩnh (Võ Quang Trọng, Phạm Quỳnh Phương 1996) và Luật tục Ê Đê: Tập quán pháp (Ngô Đức Thịnh 1996). Sau đó, ở các năm tiếp theo, nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu luật tục của các tộc người thiểu số được xuất bản như Luật tục M'nông: Tập quán pháp (Ngô Đức Thịnh chủ biên 1998), Luật tục Jrai (Phan Đăng Nhật, Vũ Ngọc Bình đồng chủ biên 1999), Luật tục Thái ở Việt Nam: Tập quán pháp (Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng 1999), Hương ước Thanh Hoá (Võ Quang Trọng, Vũ Ngọc Khánh 2000), Tìm hiểu luật tục các dân tộc ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh 2003). Ở mảng nghiên cứu này, ngoài việc sưu tầm, biên dịch nội dung luật tục và hương ước của các tộc người, nhiều công trình còn có các phần nghiên cứu, phân tích về nội dung, giá trị, ý nghĩa cũng như quá trình hình thành và phát triển của thành tố văn hoá dân gian quan trọng này. Nhận thức được vai trò, vị trí của luật tục trong xã hội đương đại, năm 2000, Viện đã tổ chức Hội thảo quốc tế Luật tục và phát triển nông thông hiện nay, thu hút nhiều học giả quốc tế và Việt Nam tham gia. Toàn bộ các bài viết đã được in trong cuốn kỷ yếu cùng tên (Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật chủ biên 2000).
       Trong hướng nghiên cứu chuyên sâu về các thành tố văn hoá dân gian còn có các công trình về làng nghề thủ công, nghệ thuật tạo hình dân gian do các cán bộ của phòng Nghệ thuật tạo hình của Viện xuất bản. Tiêu biểu cho lĩnh vực nghiên cứu này là các công trình La Xuyên - làng chạm gỗ cổ truyền (Đặng Đức, Trương Duy Bích 1989), Làng nghề Chàng Sơn (1990), Làng nghề Phù Khê (1991), Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm (1993), Lược truyện thần tổ các ngành nghề (Vũ Ngọc Khánh 1990).
       Các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian dưới dạng tổng thể, nguyên hợp
       Bên cạnh các cuốn sách và bài viết nghiên cứu các thành tố văn hoá dân gian như tín ngưỡng, lễ hội, văn học dân gian, biểu diễn dân gian, vv..., một hướng nghiên cứu khác được triển khai ở Viện là đi sâu trình bày, mô tả và phân tích tổng thể các thành tố văn hoá dân gian của từng vùng, miền hay tộc người cụ thể. Trong mảng nghiên cứu có tính tổng thể này, Viện đã hợp tác với các nhà nghiên cứu ở các địa phương trong cả nước như Hà Nội, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Thọ để thực hiện các công trình về địa chí văn hoá dân gian các tỉnh. Kết quả của sự hợp tác nghiên cứu này là 3 sách về địa chí văn hoá dân gian được xuất bản bao gồm Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (Nguyễn Đổng Chi chủ biên, 1995), Địa chí văn hoá dân gian Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội (Đinh Gia Khánh, Trần Tiến chủ biên 1991), Địa chí văn hoá dân gian vùng đất tổ (Đinh Gia Khánh, Ngô Quang Nam, Xuân Thiêm 1986). Ở cả ba công trình này, ngoài những phần giới thiệu chung về mảnh đất, con người, nội dung của chủ yếu của các công trình trình bày một cách có hệ thống các thành tố văn hoá dân gian, giúp người đọc hình dung được một cách đầy đủ toàn bộ nền văn hoá dân gian của địa phương. Chẳng hạn, cuốn Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh được chia thành bảy phần: Đất nước và con người Nghệ Tĩnh; Tri thức dân gian (thiên văn, thủy văn, địa lý, kỹ thuật, y dược,…) ; Chuyện kể dân gian ( thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, tiên thoại, truyện cười, giai thoại, ngụ ngôn,…); Thơ ca, nhạc dân gian; Trò chơi, múa, hội diễn và sân khấu dân gian; Nghệ thuật và món ăn dân gian; Phong tục tập quán dân gian. Đây là công trình nằm trong cụm tác phẩm đặc biệt xuất sắc của học giả Nguyễn Đổng Chi, vinh dự được Chủ tịch Nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (năm 1996).
       Bên cạnh các cuốn địa chí là các cuốn sách mô tả về văn hoá dân gian của các tộc người hay các làng của người Việt và một số tộc người thiểu số. Trong số này có thể kể đến Văn hoá dân gian Ê Đê (Ngô Đức Thịnh chủ biên 1992), Văn hoá dân gian M'nông (Ngô Đức Thịnh chủ biên 1993), Văn hoá truyền thống làng Đồng Kỵ (Lê Hồng Lý chủ biên 2000), Văn hóa dân gian làng ven biển (Ngô Đức Thịnh chủ biên 2000), Những khía cạnh văn hoá dân gian M'Nông Nong (Đỗ Hồng Kỳ 2012), Những sinh hoạt văn hoá dân gian của một làng ven đô: Làng Đăm  (Lê Hồng Lý, Phạm Thị Thuỷ Chung 2003), Văn hoá truyền thống của người Nùng An (Nguyễn Thị Yên, Hoàng Thị Nhuận 2010), Khảo sát văn hoá dân gian làng cổ Phù Đổng (Nguyễn Quang Lê 2011), Văn hoá dân gian làng Kiêu Kỵ (Nguyễn Quang Lê 2011), Văn hoá truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ (Kỷ yếu hội thảo khoa học 1997), Văn hóa dòng họ Thái Bình (Kỷ yếu hội thảo khoa học 1999), vv...
       Như vậy, cùng với các cuốn sách về lý luận chung, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về từng thành tố văn hoá dân gian (văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian…), cũng như nghiên cứu thành tố văn hóa dân gian theo hướng chỉnh thể của các tộc người, vùng miền, làng quê cụ thể đã làm rõ những khía cạnh lý luận và thực tiễn của thành tố văn hoá dân gian cụ thể. Nhiều công trình chuyên sâu, chẳng hạn như các công trình về thi pháp ca dao của GS.TS. Nguyễn Xuân Kính, về lễ hội của GS.TS. Lê Hồng Lý, PGS. Lê Trung Vũ, PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Châm, công trình về đạo Mẫu của GS. TS. Ngô Đức Thịnh, các công trình về múa dân gian của GS. TS. Lê Ngọc Canh, nghiên cứu sử thi của GS. TSKH. Phan Đăng Nhật, PGS. TS. Đỗ Hồng Kỳ, v.v... đã được sử dụng như các cuốn sách lý luận mang tính nền tảng cho các chuyên ngành liên quan.
       3. Mở rộng đối tượng và vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu mới
       Sau khi Viện được đổi tên thành Viện Nghiên cứu Văn hoá và trong bối cảnh xã hội mới với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc cập nhật những hướng tiếp cận, phương pháp luận nghiên cứu mới và mở rộng đối tượng nghiên cứu được coi là vấn đề trọng tâm của Viện. Việc làm này đã đưa lại nhiều kết quả khả quan, có thể tóm lược ở bốn vấn đề chủ yếu dưới đây.
       Vận dụng các lý thuyết nghiên mới, mở rộng đối tượng trong nghiên cứu văn hoá
       Ở khía cạnh lý thuyết và phương pháp tiếp cận, ở giai đoạn đầu, đặc biệt là từ những năm 2000 sau khi Viện đổi tên, Viện đã định hướng và khuyến khích các cán bộ nghiên cứu triển khai một số đề tài/nhiệm vụ nghiên cứu và xuất bản các bài viết về lý luận và phương pháp luận nghiên cứu đã và đang phổ biến trên thế giới, chẳng hạn như các hướng tiếp cận kiến tạo luận về bản sắc văn hóa, lý thuyết văn hóa hàng ngày, lý thuyết về giới, lý thuyết nghiên cứu văn hoá về truyền thông,... Một số công trình nghiên cứu mang tính lý thuyết này, chẳng hạn như đề tài cấp bộ Một số khuynh hướng lý thuyết nghiên cứu văn hóa và các hướng tiếp cận văn hoá Việt Nam (Đề tài cấp bộ do Phạm Quỳnh Phương và Hoàng Cầm đồng chủ nhiệm 2013), "Văn hoá thường ngày - một khía cạnh lý thuyết" (Phạm Quỳnh Phương, Văn hoá dân gian, số 4/2014), "Các hướng tiếp cận lý thuyết về tiêu dùng và văn hoá tiêu dùng (Phạm Quỳnh Phương, Văn hoá dân gian, số 4/2018), v.v... không chỉ cung cấp những nền tảng lý luận nghiên cứu mới về văn hoá cho nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành văn hoá học, văn hóa dân gian của Khoa Văn hóa học, Học viện Khoa học xã hội mà còn được nhiều cơ sở đào tạo về văn hoá học khác tham khảo, sử dụng. Các công trình này, quan trọng hơn, đã được vận dụng trong nhiều nghiên cứu cơ bản của các cán bộ nghiên cứu trẻ, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu của đội ngũ cán bộ nghiên cứu này của Viện nói riêng và sự phát triển của ngành nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam nói chung.
       Đi đôi với việc giới thiệu và vận dụng các lý thuyết nghiên cứu văn hoá mới của các học giả nước ngoài, trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhiều đề tài nghiên cứu của Viện, ở cả hệ đề tài cấp bộ, cấp cơ sở và đề tài hợp tác quốc tế, đã hướng tới những chủ đề nghiên cứu mang tính thời sự, đề cập đến các vấn đề văn hoá - xã hội đang được quan tâm hiện nay như phong trào xã hội của người đồng tính, bất đồng trong trong quản lý và sử dụng tài nguyên, tính chính trị của công lý trong mâu thuẫn về tài nguyên, mối quan hệ giữa tính chủ thể tự quyết của chủ nhân các thực hành văn hoá ở nông thôn Việt Nam trong tương quan với quá trình biến đổi văn hoá, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, văn hóa vỉa hè, văn hóa biển đảo, tranh biếm hoạ, văn hoá truyền thông, vv... Tiêu biểu trong số này là các công trình Internet: mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc (Nguyễn Thị Phương Châm 2013), Giới, tăng quyền và sự phát triển: quan hệ giới từ góc nhìn của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Phạm Quỳnh Phương 2012), Khát vọng được là chính mình: Người chuyển giới ở Việt Nam (Phạm Quỳnh Phương 2013), Làm dâu nơi đất khách: Trải nghiệm văn hoá của những người phụ nữ lấy chồng Trung Quốc ở Vạn Vĩ (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc) (Nguyễn Thị Phương Châm 2012) Diễn ngôn phát triển, chuyển đổi sinh kế và biến đổi văn hoá ở người Cơ Ho và Ê Đê, Tây Nguyên (Hoàng Cầm làm chủ nhiệm, đề tài cấp bộ, 2018), Vai trò của văn hoá và lối sống trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay (Viện Nghiên cứu văn hoá chủ trì thực hiện 2014), Mâu thuẫn và hợp tác trong REDD+ ở Việt Nam, Nepal và Mexico (đề tài hợp tác nước ngoài của Viện Nghiên cứu văn hoá thực hiện trong thời gian 2014-2018),  Hiện trạng di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO vinh danh (Viện Nghiên cứu văn hoá chủ trì thực hiện 2017),  REDD+: Sự thâu tóm rừng mãi? (đề tài hợp tác nước ngoài của Viện Nghiên cứu văn hoá thực hiện trong thời gian 2014-2018), Quản trị rừng siêu quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá sản phẩm từ gỗ và tính chính trị của công lý (đề tài hợp tác nước ngoài của Viện Nghiên cứu Văn hoá thực hiện trong thời gian 2014-2018) vv....
       Vận dụng các hướng tiếp cận lý thuyết mới trên thế giới, với đối tượng nghiên cứu mới, các công trình này không chỉ gợi mở các chủ đề nghiên cứu mới cho ngành nghiên cứu văn hoá và khoa học xã hội ở Việt Nam mà còn góp phần cung cấp thêm những cách tiếp cận mới, cập nhật, góp phần cung cấp nền tảng lý luận cho lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của ngành nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam. Một số công trình nghiên cứu trong hệ đề tài này đã đưa ra được những phát hiện mới có tính chất khám phá và phản biện. Ví dụ, những phát hiện quan trọng về phong trào của nhóm LGBT (đồng tính, song tính và chuyển giới) ở Việt Nam trong đề tài cấp bộ từ góc tiếp cận nghiên cứu văn hóa đã góp phần khiến cho xã hội có cái nhìn cởi mở, nhân văn hơn đối với cộng đồng này, giảm thiểu những định kiến và kỳ thị;  hay những phát hiện về những thách thức, hệ quả không mong đợi từ việc công nhận các di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO trong đề tài cấp bộ Hiện trạng di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO vinh danh (2017) đã đưa ra một tiếng nói phản biện về những bất cập từ quá trình di sản hoá các thực hành văn hoá phi vật thể. Tương tự như vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước Vai trò của văn hoá và lối sống trong phát triển bền vững Tây Nguyên hiện nay (2014) hay Mâu thuẫn và hợp tác trong REDD+ ở Việt Nam, Nepal và Mexico (2014-2018) cung cấp những cách nhìn mới, mang tính phản biện, đặc biệt là cách nhìn của người trong cuộc về những khó khăn, thách thức mà người dân gặp phải trong tiếp cận tài nguyên, trong việc triển khai các dự án phát triển về xã hội và văn hoá, từ đó gợi mở các hướng nghiên cứu mới hay giải pháp chính sách mới với vùng miền núi,...
       Văn hoá dân gian trong xã hội đương đại và văn hoá dân gian đương đại
       Tiếp nối thành tựu nghiên cứu có ý nghĩa nền tảng trong lĩnh vực nghiên văn hoá dân gian các tộc người ở Việt Nam của thế hệ các nhà nghiên cứu đi trước, các nhà khoa học của Viện tiếp tục triển khai các đề tài và công bố các kết quả nghiên cứu mới về văn hoá dân gian dưới dạng tổng thể cũng như các thành tố cụ thể của nó như văn học dân gian, lễ hội, phong tục, nghệ thuật biểu diễn, tri thức dân gian của các tộc người. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, từ khoảng hơn một thập kỉ trở lại đây, các nghiên cứu về văn hoá dân gian đã tập trung  tìm hiểu về các hiện trạng và vai trò của thực hành văn hoá dân gia  trong xã đương đại như: các di sản văn hóa phi vật thể (ca trù, sử thi, quan họ, hát xoan, tín ngưỡng Tứ phủ,…), nghề và làng nghề, văn hóa làng, nghệ nhân dân gian, nghệ thuật diễn xướng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian,... Thêm vào đó, các hiện tượng văn hoá dân gian mới hay văn hoá dân gian đương đại như vè, ca dao, tục ngữ hiện đại, tranh biếm hoạ, ngôn ngữ của giới trẻ, cũng được quan tâm nghiên cứu... Ở mảng nghiên cứu về văn hoá dân gian đương đại, bên cạnh việc sử dụng hướng tiếp cận dựa trên nền tảng lý luận về văn hoá dân gian được xây dựng bởi thế hệ các nhà nghiên cứu đi trước, các cán bộ nghiên cứu của Viện đã vận dụng các hướng lý thuyết, phương pháp luận nghiên mới từ nhiều chuyên ngành khác nhau, như nghiên cứu văn hoá (cultural studies), nhân học văn hoá (cultural anthropology),... Vì vậy, kết quả nghiên cứu của các đề tài/nhiệm vụ nghiên cứu này đã góp phần làm cho lĩnh vực nghiên cứu cơ bản ở Viện ngày một phát triển. Các đề tài, sách và bài báo khoa học được công bố không chỉ củng cố thêm nền tảng lý luận cho công tác nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực văn hoá dân gian ở Việt Nam, chủ đề vốn là thế mạnh của Viện từ trước đến nay, mà còn bổ sung thêm các nguồn tư liệu mới cũng như những lý giải mới về đặc điểm, vai trò và giá trị của văn hoá dân gian trong xã hội Việt Nam đương đại. Di sản văn hoá trong xã hội Việt Nam đương đại (Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm tổ chức bản thảo 2014), Sử thi Tây Nguyên với cuộc sống đương đại (Phan Đăng Nhật, Chu Xuân Giao đồng chủ biên 2010), Rối nước châu thổ Bắc Bộ, sự phục hồi từ đổi mới đến nay (Vũ Tú Quỳnh 2014); Di sản lịch sử và những hướng tiếp cận mới (Lê Hồng Lý, Lê Thị Liên, Nguyễn Thị Phương Châm tổ chức bản thảo 2011), v.v... Văn hoá biển miền Trung trong xã hội đương đại (Viện Nghiên cứu Văn hoá 2019) là những kết quả cụ thể của mảng nghiên cứu mới này.
       Biến đổi văn hoá
       Từ khoảng những năm 2000 trở lại đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, vấn đề tìm hiểu và lý giải sự biến đổi của văn hoá dân gian nói riêng và các thực hành văn hoá nói chung của các tộc người, vùng miền, đặc biệt là văn hoá của các tộc người thiểu số và văn hoá của các cộng đồng ven đô, được các nhà nghiên cứu của Viện dành sự quan tâm đặc biệt. Bởi vì, tuy biến đổi là “hằng số” của văn hoá song sự biến đổi mạnh mẽ của thực hành văn hoá các cộng đồng, tộc người trong mối quan hệ với các chính sách, chương trình phát triển phải được hiểu một cách kỹ lưỡng bởi những biến đổi lớn này có thể tạo ra nhiều thách thức đối với sự phát triển bền vững của các cộng đồng. Bên cạnh những công trình đi sâu tìm hiểu về sự biến đổi của từng thành tố văn hoá như cuốn Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng (Lê Hồng Lý 2008),  Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay (Lê Hồng Lý và Nguyễn Thị Phương Châm tổ chức bản thảo 2008), Những biến đổi văn hoá dòng họ người Việt thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế (Nguyễn Quang Lê, Nguyễn Thị Tô Hoài, Nguyễn Thị Huệ 2017), các công trình nghiên cứu còn lại trong mảng nghiên cứu này quan tâm đến sự biến đổi của các thực hành văn hoá nói chung. Đó là các công trình Biến đổi văn hoá ở các làng quê hiện nay (Nguyễn Thị Phương Châm 2009), Diễn ngôn, chính sách và sự biến đổi văn hoá - sinh kế tộc người (Hoàng Cầm, Phạm Quỳnh Phương 2012), hay Làng ven đô và sự biến đổi văn hoá (trường hợp làng Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị Phương Châm 2016)... Một trong những điểm mới trong các công trình nghiên cứu này là, các tác giả không chỉ dừng lại ở việc mô tả các biểu hiện của sự biến đổi đơn thuần mà đi sâu tìm hiểu các nguyên nhân và đặc biệt là nhận diện những hệ quả không mong đợi của sự biến đổi này đối với đời sống kinh tế, văn hoá và xã hội các tộc người. Chẳng hạn, trong chuyên khảo của TS. Hoàng Cầm và PGS. TS. Phạm Quỳnh Phương, ngoài việc lựa chọn giới thiệu một số hướng nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong nghiên cứu văn hoá tộc người và giới thiệu khái quát về đời sống kinh tế- xã hội các tộc người thiểu số ở Việt Nam, cuốn sách đi sâu phân tích diễn ngôn về các tộc người thiểu số Việt Nam thể hiện trên truyền thông, trong các công trình nghiên cứu và chính sách cũng như các tác động của diễn ngôn và chính sách đối với sự biến đổi văn hoá và sinh kế tộc người. Tương tự như vậy, trong chuyên khảo của mình, PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Châm không chỉ dừng lại ở việc mô tả những biểu hiện của sự biến đổi các thành tố văn hoá của cộng đồng mà đặt sự biến đổi này trong mối liên hệ với quá trình đô thị hoá nhanh chóng của các vùng ven đô ở Việt Nam.
       Vấn đề bảo vệ và phát huy di sản
       Di sản văn hoá, bao gồm cả di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, đóng vai trò then chốt và mang tính quyết định để đạt được các mục tiêu bền vững của tộc người, quốc gia, đem lại sự phát triển kinh tế bao trùm, giúp xoá đói giảm nghèo, tạo ra sự thịnh vượng về mặt kinh tế, là nền tảng tạo ra sự gắn kết xã hội, đảm bảo sự phát triển bình đẳng và nhân văn, có bản sắc và bền vững về mặt môi trường. Trên cơ sở nhận thức đó và dưới góc tiếp cận mới, trong khoảng 10 năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu của Viện  đã  tiến hành nghiên cứu ở cả khía cạnh lý luận và thực tiễn về vấn đề bảo vệ và phát huy di sản ở Việt Nam để có hiểu biết sâu và đầy đủ hơn hiện trạng, vai trò và giá trị của di sản văn hoá, từ đó gợi ra những hướng tiếp cận và mô hình bảo vệ và phát huy phù hợp.
       Dưới sự tài trợ của Văn phòng UNESCO tại Hà Nội và Quỹ châu Á, từ 2010-2015 nhóm nghiên cứu gồm GS.TS Lê Hồng Lý, PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Châm, TS. Đào Thế Đức, PGS. TS. Nguyễn Thị Hiền, TS. Hoàng Cầm đã thực hiện các dự án nghiên cứu bao gồm 1) Nghiên cứu đánh giá hai dự án bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể Không gian cồng chiêng Tây Nguyên và Nhã nhạc cùng đình Huế; 2) Cân bằng giữa bảo tồn di sản và quá trình hiện đại hoá; 3) Vai trò của văn hoá và lối sống trong sự phát triển bền vững Tây Nguyên;  4) Quản trị đô thị từ góc nhìn văn hóa; 5) Đánh giá hiện trạng bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO vinh danh. Kết quả nghiên cứu của các dự án nghiên cứu này đã được nhóm nghiên cứu in trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo, như bài "Du lịch văn hoá và vấn đề bảo vệ - phát huy di sản ở người Lạch, Lạc Dương, Lâm Đồng" (Văn hoá dân gian số 4/2014), "Sáng tạo truyền thống: Nghiên cứu trường hợp Giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày mồng 10-3 âm lịch hàng năm" (Nxb. Văn hoá thông tin, 2012), "Vai trò của môi trường thực hành văn hóa trong việc bảo tồn di sản: Bài học từ các dự án bảo tồn di sản cồng chiêng và nhã nhạc” (in trong Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại, 2014) và "Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá trong quá trình hiện đại hoá: Nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), Hội Gióng (Hà Nội), Tháp Bà Poh Nagar (Khánh Hoà), và văn hoá cồng chiêng của người Lạch (Lâm Đồng)" (trong Di sản văn hoá trong xã hội Việt Nam đương đại, Nxb. Tri Thức 2014), “Yếu tố văn hóa trong quy hoạch xây dựng đô thị hiện nay (từ thực tiễn của tỉnh Bắc Ninh và thành phố Đà Nẵng)” (Văn hóa học, số 1/2018), vv....
       Ở hướng nghiên cứu về về vấn đề bảo vệ và phát huy di sản văn hoá, các bài viết, đề tài nghiên cứu đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu mới, có những đóng góp nhất định cho lĩnh vực nghiên cứu về di sản của ngành nghiên cứu văn hoá nói riêng và công tác bảo vệ và phát huy di sản nói chung. Một trong những phát hiện và đóng góp đáng lưu ý của các bài viết và đề tài nghiên cứu mà nhóm các nhà khoa học của Viện thực hiện là chỉ ra những bất cập về quan điểm tiếp cận trong bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, bao gồm cả những di sản được UNESCO vinh danh. Quan điểm "bảo tồn có chọn lọc" đã và đang được sử dụng hiện nay, thể hiện ở việc lựa chọn, đánh giá di sản cần giữ hay loại bỏ, xếp loại di sản và thực hành văn hoá thành có giá trị và lạc hậu, vv.. tạo ra sự bất bình đẳng giữa các thực hành và di sản văn hóa của các cộng đồng khác nhau, làm suy giảm sự đa dạng văn hoá và đi ngược lại với nguyên tắc của các công ước về đa dạng văn hóa 2003 của UNESCO. Bên cạnh đó, quan điểm đảm bảo tính chỉnh thể của di sản văn hóa trong các mô hình bảo vệ và phát huy di sản cũng chưa được quan tâm đúng mức. Với bản chất của văn hóa mang tính chỉnh thể, việc chỉ ‘chọn lọc’ lưu giữ một vài ‘bản sắc’ văn hóa có giá trị ‘tiêu biểu’ nào đó mà không quan tâm hay loại bỏ các thành tố văn hóa khác trong cùng một hệ thống bị coi là ‘lạc hậu’ sẽ làm cho việc bảo vệ và phát huy di sản không đạt được tính bền vững. Các bài viết và đề tài nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học của Viện cũng chỉ ra những hệ quả không mong đợi của vấn đề di sản hoá di sản văn hoá phi vật thể, bao gồm vấn đề ngoài lề hoá cộng đồng chủ nhân ra khỏi di sản, vấn đề bất bình đẳng trong chia sẻ lợi ích, vấn đề sân khấu hoá di sản, mối quan hệ giữa phát triển du lịch và tính bền vững của vấn đề bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể vv... Những kết quả nghiên cứu này không chỉ đóng góp hướng tiếp cận mới cho lĩnh vực nghiên cứu này của ngành nghiên cứu văn hoá mà còn là cơ sở khoa học để điều chỉnh, bổ sung chính sách và mô hình bảo vệ và phát huy di sản trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam.
       4. Nghiên cứu tư vấn chính sách                                                                                                           
       Bên cạnh những đóng góp ở khía cạnh nghiên cứu cơ bản cho chuyên ngành và liên ngành, trong chặng đường 40 năm phát triển, Viện Nghiên cứu Văn hóa còn có những đóng góp quan trọng vào việc đánh giá, phản biện chính sách, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để giải quyết nhiều vấn đề mang tính thời sự trong xã hội Việt Nam đương đại. Các đóng góp trong tư vấn chính sách của Viện được thể hiện ở dạng cơ bản sau: 1) Các cán bộ của Viện chủ trì hoặc tham gia với tư cách là thành viên nghiên cứu của các dự án nghiên cứu hành động (action research) do các tổ chức phi chính phủ hoặc các bộ, ngành của Việt Nam đề xướng với mục đích nhằm đưa ra các khuyến nghị chính sách và các can thiệp cụ thể đối với các vấn đề văn hoá, xã hội cụ thể; 2) Dựa trên kết quả nghiên cứu cơ bản trong các hệ đề tài của Viện, đưa ra các khuyến nghị và giải pháp nhằm thay đổi, bổ sung hoặc gợi mở, gợi ý các chính sách mới; và 3) Phối hợp với các tổ chức hoặc địa phương tổ chức các hội thảo, tọa đàm về một chủ đề cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của các tổ chức và địa phương.
       Tiêu biểu cho các nghiên cứu hành động, can thiệp mà các cán bộ trong Viện chủ trì thực hiện hay tham gia thực hiện với tư cách là các thành viên nghiên cứu chính trong những năm vừa qua là dự án đánh giá công tác bảo vệ di sản cồng chiêng Tây Nguyên và nhã nhạc cung đình Huế (phối hợp chủ trì thực hiện với UNESCO và Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam), dự án nghiên cứu về tác động của chính sách phát triển đối với sự biến đổi văn hoá các tộc người thiểu số (do Viện Nghiên cứu Kinh tế xã hội và môi trường (iSEE) - tổ chức thực hiện), dự án viết sách hướng dẫn công tác về đa dạng văn hoá cho cán bộ Ủy ban Dân tộc (phối với hợp iSEE và  Ủy ban Dân tộc), dự án nghiên cứu can thiệp bạo lực gia đình trên cơ sở giới (do Tổ chức UNFPA của Liên hợp quốc tài trợ), dự án nghiên cứu phụ nữ trong tiếp cận đất đai trong xã hội Việt Nam đương đại (do UNDP tài trợ), dự án nợ vùng các tộc người thiểu số Tây Nguyên và miền núi phía Bắc (Liên minh Nông nghiệp, CARE và iSEE chủ trì), dự án đánh giá tiêu chí nông thôn mới (do Văn phòng Nông thôn mới của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và UNESCO chủ trì), dự án nghiên cứu về quản trị đô thị từ góc nhìn văn hóa (do Quỹ Châu Á tài trợ),... Do phối hợp thực hiện với các tổ chức và bộ, ngành trên cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu giải quyết các vấn đề thực tiễn của các đơn vị này nên các khuyến nghị chính sách hoặc giải pháp để can thiệp, giải quyết các vấn đề thời sự cụ thể trong xã hội Việt Nam đương đại từ các dự án nghiên cứu có tính ứng dụng cao. Kết quả nghiên cứu của nhiều dự án được xuất bản và được các cơ quan chủ trì thực hiện sử dụng cho tập huấn cán bộ (chẳng hạn như cuốn Đa dạng văn hoá: bài học từ các câu chuyện được Ủy ban Dân tộc sử dụng trong chương trình tập huấn cho các cán bộ về đa dạng văn hoá các tộc người thiểu số ở Việt Nam), làm cơ sở khoa học để triển khai các biện pháp can thiệp và sửa đổi chính sách (các khuyến nghị và gợi ý giải pháp  từ dự án nghiên cứu nợ vùng các tộc người thiểu số sau đó được Ủy ban Dân tộc và Ngân hàng Chính sách tham khảo để đưa ra các kế hoạch hành động nhằm giảm thiểu vấn đề nợ cho các tộc người thiểu số Tây Nguyên, hay Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thay đổi tiêu chí văn hoá trong Chương trình nông thôn mới dựa vào các khuyến nghị của dự án nghiên cứu về tiêu chí trong nông thôn mới), hay dựa vào kết quả nghiên cứu và khuyến nghị từ dự án nghiên cứu bạo lực gia đình trên cơ sở giới, UNFPA đã kết hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam triển khai các chương trình tuyên truyền và can thiệp nhằm giảm thiểu và chấm dứt nạn bạo lực gia đình ở các vùng nông thôn,... Trong nhiều năm qua, iSEE, một tổ chức nghiên cứu phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực quyền của các tộc người thiểu số và các nhóm thiểu số tính dục cũng đã sử dụng các kết quả nghiên cứu do cán bộ nghiên cứu của Viện phối hợp thực hiện để triển khai các hoạt động can thiệp và tuyên truyền của đơn vị. UNDP cũng đã sử dụng các khuyến nghị của đề tài Phụ nữ trong tiếp cận đất đai trong xã hội Việt Nam đương đại (2 cán bộ Viện tham gia với vai trò là thành viên nghiên cứu chủ chốt) để xây dựng chương trình tập huấn cho các cán bộ cấp huyện trở xuống về vấn đề giới trong tiếp cận đất đai và giải quyết các tranh chấp liên quan,… Thông qua các dự án nghiên cứu phản biện và can thiệp này, năng lực nghiên cứu chuyên môn của các cán bộ trong Viện được nhiều tổ chức, bộ, ngành biết đến và vì thế góp phần nâng cao vị thế của Viện trong xã hội.
       Đào tào nguồn nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế  
       1. Đào tạo
       Từ khi thành lập đến nay, công tác đào tạo nhân lực chất lượng cao trong nghiên cứu văen hoá dân gian và nghiên cứu văn hoá cho các cán bộ nghiên cứu của Viện cũng như cho  ngành nghiên cứu văn hoá của Việt Nam nói chung luôn được chú trọng.
       Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho các cán bộ của Viện, song song với việc cử cán bộ đi đào tạo sau đại học ở nước ngoài như Bulgary, Hungary, Liên Xô cũ, Mỹ, Anh, Úc, Nhật Bản, Đức, Đài Loan, Trung Quốc và các cơ sở trong nước, bao gồm cả cơ sở đào tạo của Viện, Viện còn tổ chức các khoá tập huấn về phương pháp nghiên cứu, các buổi sinh hoạt khoa học giới thiệu các kết quả nghiên cứu và hướng tiếp cận lý thuyết mới với các thuyết trình viên là các nhà khoa học đầu ngành quốc tế và Việt Nam. Ngoài ra, việc đào tạo nguồn nhân lực trong nghiên cứu văn hóa còn được thực hiện thông qua thực tế thực hiện các đề tài nghiên cứu mà Viện triển khai thực hiện. Các đề tài trọng tâm của Viện luôn có sự tham gia của các nhà nghiên cứu có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm cùng với các nhà nghiên cứu trẻ để các nhà nghiên cứu trẻ có thể học hỏi, đúc rút kinh nghiệm cho mình và dần dần trưởng thành, độc lập dần trong công tác nghiên cứu.
       Bên cạnh đó và quan trọng hơn, năm 1994, Viện Nghiên cứu văn hoá được Bộ Giáo dục và đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo cao học chuyên ngành Văn hoá dân gian (theo Quyết định số 3426/GĐT ngày 22/11/1994 của Bộ trưởng bộ Giáo dục đào tạo) và từ năm 2000 đào tạo cao học ngành Văn hoá học (theo Quyết định số 18/2000/QĐ BGDDT). Từ năm 2001, Viện tiếp tục được Bộ giao đào tạo bậc tiến sĩ chuyên ngành Văn hoá dân gian từ (theo Quyết định số 1496/QĐ-BGD& ĐT-SĐH của Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo). Đây là cơ sở đào tạo về chuyên ngành văn hoá dân gian đầu tiên của cả nước. Từ khi được giao nhiệm vụ đào tạo đến 2010, đã có hàng trăm thạc sĩ và tiến sĩ bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành nghiên Văn hoá dân gian và văn hoá học, góp phần đào tạo ra các cán bộ nghiên cứu văn hoá dân gian và văn hoá học, các cán bộ làm công tác văn hóa cho các trường đại học, các viện nghiên cứu và các cơ quan văn hóa trong cả nước.
       Mặc dù từ 2010 đến nay cơ sở đào tạo của Viện đã được chuyển vào Học viện Khoa học xã hội, song các cán bộ nghiên cứu của Viện vẫn đóng vai chủ yếu về giảng dạy và hướng dẫn học viên cao học và Nghiên cứu sinh ở khoa Văn hóa học của Học viện Khoa học xã hội. Để đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam, Khoa Văn hóa học, với lực lượng nòng cốt là các cán bộ đi tu nghiệp ở nước ngoài, đã chú trọng việc giới thiệu các hệ thống lý thuyết nghiên cứu văn hoá của ngành Nhân học văn hoá và Nghiên cứu văn hoá. Do được tiếp cận một cách khá hệ thống các khuynh hướng lý thuyết nghiên cứu mới, các vấn đề nghiên cứu và hướng tiếp cận của nhiều luận án, luận văn được thực hiện tại Khoa trong nhiều năm qua đã được mở rộng, có nhiều hướng nghiên cứu và kiến giải mới, góp phần đáng kể vào sự phát triển của ngành. Nhiều học viên và nghiên cứu sinh đã trở thành cán bộ nghiên cứu tại các viện nghiên cứu chuyên ngành hay cán bộ giảng dạy tại các trường đại học ở trung ương và địa phương. Các học viên và nghiên cứu sinh tốt nghiệp tại Khoa là những người tiếp tục chuyển tải những lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu mới được học tại Khoa, góp phần đào tạo các nguồn lực nghiên cứu mới chất lượng cao cho ngành nghiên cứu văn hoá của Việt Nam.
       Ngoài tham gia đào tạo tại Khoa Văn hoá học, nhiều cán bộ của Viện còn tham gia giảng dạy và hướng dẫn học viên cao học và nghiên cứu sinh ở các cơ sở đào tạo khác như: Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm nghệ thuật trung ương, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Nội vụ, Học viện Chính trị An ninh nhân dân,…  
       2. Đối ngoại và hợp tác quốc tế
       Đối ngoại và hợp tác quốc tế là mảng công việc được Viện Nghiên cứu Văn hóa chú trọng từ sớm. Trước đổi mới 1986, Viện đã có quan hệ hợp tác với nhiều nước khối Đông Âu đặc biệt là Liên Xô (cũ), Bungary và Hunggary và thông qua sự hợp tác này,  nhiều nhà khoa học của Viện đã được cử đi đào tạo ở các quốc gia này (GS. TS. Ngô Đức Thịnh, GS.TS. Nguyễn Xuân Kính, PGS.TS. Nguyễn Quang Lê, PGS.TS. Võ Quang Trọng được đào tạo ở Liên Xô, GS.TSKH. Phan Đăng Nhật và GS.TS. Lê Hồng Lý, GS.TS. Lê Ngọc Canh được đào tạo ở Bungary). Từ  đổi mới 1986 đến nay, công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế được triển khai ngày càng sâu rộng. Hiện nay, Viện đã thiết lập được nhiều mối quan hệ hợp tác trong nghiên cứu, trao đổi học thuật và đào tạo nguồn nhân lực với một số trường đại học ở Anh (Đại học East Anglia), Mỹ (Đại học Washignton, Viện Harvard - Yenching), Đức (Viện Max Planck, Đại học Bielefield), Pháp (Đại học Paris Diderot, Đại học Aix-Marseille), Đài Loan (Đại học Thành Công), Hàn Quốc (Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Pukyong, Busan), Indonesia (đại học Nông nghiệp Bogor, Đại học Gadjah Mada), Nepal (Viện Nghiên cứu cao cấp về khoa học xã hội), Mexico (Viện Nhân học), Đan Mạch (Đại học Copenhagen) Trung Quốc (Đại học dân tộc Quảng Tây, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội) , Lào (Viện Văn hoá, Viện Hàn lâm khoa học xã hội), Nga (Viện Hàn lâm Khoa học, Đại học Kinh tế cao cấp Saint Peterburg), Úc (Đại học Quốc gia, Đại học La Trobe), Nhật (Đại học Tokyo, Bảo tàng Osaka), Ghana (Đại học Khoa học và Công nghệ Kwame Nkrumah ), Thái Lan (Đại học Chiang Mai), vv...
       Hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế trong những năm gần đây diễn ra chủ yếu theo ba hình thức: 1) Mời các học giả nước ngoài có uy tín đến trình bày các nghiên cứu mới theo dạng seminar hoặc tổ chức các khoá đào tạo về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu tại Viện; 2) Đồng tổ chức các hội thảo, toạ đàm quốc tế (ví dụ: Tổ chức tiểu ban "Thách thức các giả định về FLEGT" [Challenging assumptions in FLEGT] trong hội thảo quốc tế FLARE tại Đại học Copenhagen, Đan Mạch diễn ra từ ngày 18-20/10/2018);  đồng tổ chức Toạ đàm khoa học "Tính hợp pháp của gỗ" [timber legality symposium] tại Đại học Copenhaghen Đan Mạch vào ngày 17/12/2018, đồng tổ chức toạ đàm quốc tế "REDD+: Sự thâu tóm rừng mãi? với đại học Copenhagen và học Viện Nông nghiệp Việt Nam tại Hà Nội vào năm 2017, vv..) ; 3)  Thực hiện các dự án nghiên cứu hợp tác giữa Viện và các trường đại học, trung tâm nghiên cứu nước ngoài (Từ năm 2014-2018, Viện đã đồng chủ trì thực hiện ba dự án hợp tác quốc tế với Đại học East Anglia (Anh), Đại học Gadjah Mada (Indonesia) và đại học Khoa học và Công nghệ Kwame Nkrumah (Ghana), đại học Copenhagen (Đan Mạch), Viện Nhân học (Mexico), Viện Viện Nghiên cứu cao cấp về khoa học xã hội (Nepal).
       Việc tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nhà khoa học và các cơ sơ nghiên cứu khoa học quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc đạo tạo nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện cho các nhà khoa học của viện tiếp cận, cập nhật các nghiên cứu và khuynh hướng lý thuyết mới, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu của các cán bộ của cơ quan theo hướng chuẩn quốc tế. Các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế  cũng tạo ra cơ hội để các nhà khoa học của Viện triển khai các nghiên cứu so sánh giữa Việt Nam và các nước, xuất bản quốc tế, từ đó nâng cao vị thế khoa học của Viện.
       Định hướng phát triển
       Có thể nói trong chặng đường 40 năm xây dựng, hình thành và phát triển, các thế hệ cán bộ của Viện Nghiên cứu văn hóa đã có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian và nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam. Nhiều nghiên cứu khoa học của Viện đã đặt nền tảng về mặt lý luận và phương pháp luận nghiên cứu cho ngành nghiên cứu văn hoá dân gian và nghiên cứu văn hoá, góp phần đưa Viện trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực văn hoá học và văn hoá dân gian ở Việt Nam.
       Kế thừa những thành tựu to lớn đã đạt được, trong những năm tới, Viện sẽ tiếp tục đẩy mạnh công việc nghiên cứu khoa học cơ bản, tiếp tục cập nhật các khuynh hướng lý thuyết nghiên cứu văn hoá của thế giới để đáp ứng được sự phát triển về mặt học thuật của ngành nghiên cứu văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Bên cạnh nghiên cứu văn hoá truyền thống trong xã hội đương đại, Viện vẫn sẽ tiếp tục mở rộng các hướng nghiên cứu để quan tâm đến những hiện tượng văn hóa mới xuất hiện hay những vấn đề văn hóa đang được bàn luận nhiều trong xã hội. Ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh các nghiên cứu cơ bản, Viện cũng nỗ lực gắn các kết quả nghiên cứu cơ bản ấy với thực tiễn,  đúc kết các kết quả nghiên cứu thành các luận cứ khoa học để có thể sử dụng tốt hơn nữa cho việc tư vấn, phản biện chính sách, từ đó có được những sự điều chỉnh nhất định nhằm thúc đẩy việc thực thi chính sách được hiệu quả hơn, gắn chặt chẽ hơn với thực tiễn đời sống, từ đó góp phần phát huy được các truyền thống văn hoá các tộc người cho phát triển bền vững.
 

         PGS. TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa

TS. HOÀNG CẦM

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa

 

Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: