Thành tựu và định hướng phát triển của Viện Nghiên cứu Văn hóa

11/08/2019

Thành tựu trong hoạt động khoa học
Trên chặng đường 40 năm hình thành, đổi mới và phát triển, Viện Nghiên cứu Văn hóa đã đạt được nhiều thành tựu nghiên cứu lớn, đem lại những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa của Việt Nam, bao gồm: 1) Xây dựng cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của ngành; 2) Nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn các công trình chuyên sâu về văn hóa dân gian; 3) Mở rộng đối tượng, phạm vi và xây dựng hướng tiếp cận trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa;  4) Triển khai các đề tài phục vụ tư vấn chính sách về văn hóa và phát triển bền vững; 5) Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nghiên cứu văn hóa dân gian và văn hóa học.
Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu là tiền đề quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của một ngành khoa học. Nhận thức được tầm quan trọng này, ngay sau khi Ban Văn hóa dân gian và sau đó là Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian được thành lập, Ban lãnh đạo và các thế hệ các nhà nghiên cứu của Viện đã tập trung nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho chuyên ngành khoa học còn non trẻ này ở Việt Nam nhằm xác định các hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, làm rõ mục đích, đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra đối với khoa nghiên cứu văn hóa dân gian.
Song song với việc xuất bản các công trình mang tính lý luận, đặt nền tảng về phương pháp và hướng tiếp cận nghiên cứu văn hoá dân gian ở Việt Nam, thế hệ các nhà khoa học của Viện đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn các công trình nghiên cứu chuyên sâu về 1) các thành tố văn hóa dân gian và 2) văn hoá dân gian theo dạng tổng thể, nguyên hợp của các nhóm tộc người, các vùng miền.Cùng với các cuốn sách về lý luận chung, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về từng thành tố văn hoá dân gian (văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian…), cũng như nghiên cứu thành tố văn hóa dân gian theo hướng chỉnh thể của các tộc người, vùng miền, làng quê cụ thể đã làm rõ những khía cạnh lý luận và thực tiễn của thành tố văn hoá dân gian cụ thể. Nhiều công trình chuyên sâu, chẳng hạn như các công trình về thi pháp ca dao của GS.TS. Nguyễn Xuân Kính, về lễ hội của GS.TS. Lê Hồng Lý, PGS. Lê Trung Vũ, PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Châm, công trình về đạo Mẫu của GS. TS. Ngô Đức Thịnh, các công trình về múa dân gian của GS. TS. Lê Ngọc Canh, nghiên cứu sử thi của GS. TSKH. Phan Đăng Nhật, PGS. TS. Đỗ Hồng Kỳ, v.v... đã được sử dụng như các cuốn sách lý luận mang tính nền tảng cho các chuyên ngành liên quan.
Sau khi Viện được đổi tên thành Viện Nghiên cứu Văn hoá và trong bối cảnh xã hội mới với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc cập nhật những hướng tiếp cận, phương pháp luận nghiên cứu mới và mở rộng đối tượng nghiên cứu được coi là vấn đề trọng tâm của Viện. Viện đã định hướng và khuyến khích các cán bộ nghiên cứu triển khai một số đề tài/nhiệm vụ nghiên cứu và xuất bản các bài viết về lý luận và phương pháp luận nghiên cứu đã và đang phổ biến trên thế giới, chẳng hạn như các hướng tiếp cận kiến tạo luận về bản sắc văn hóa, lý thuyết văn hóa hàng ngày, lý thuyết về giới, lý thuyết nghiên cứu văn hoá về truyền thông... Nhiều đề tài nghiên cứu của Viện, ở cả hệ đề tài cấp bộ, cấp cơ sở và đề tài hợp tác quốc tế, đã hướng tới những chủ đề nghiên cứu mang tính thời sự, đề cập đến các vấn đề văn hoá - xã hội đang được quan tâm hiện nay như phong trào xã hội của người đồng tính, bất đồng trong trong quản lý và sử dụng tài nguyên, tính chính trị của công lý trong mâu thuẫn về tài nguyên, mối quan hệ giữa tính chủ thể tự quyết của chủ nhân các thực hành văn hoá ở nông thôn Việt Nam trong tương quan với quá trình biến đổi văn hoá, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, văn hóa vỉa hè, văn hóa biển đảo, tranh biếm hoạ, văn hoá truyền thông... Vận dụng các hướng tiếp cận lý thuyết mới trên thế giới, với đối tượng nghiên cứu mới, các công trình này không chỉ gợi mở các chủ đề nghiên cứu mới cho ngành nghiên cứu văn hoá và khoa học xã hội ở Việt Nam mà còn góp phần cung cấp thêm những cách tiếp cận mới, cập nhật, góp phần cung cấp nền tảng lý luận cho lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của ngành nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam. Một số công trình nghiên cứu trong hệ đề tài này đã đưa ra được những phát hiện mới có tính chất khám phá và phản biện.
Tiếp nối thành tựu nghiên cứu có ý nghĩa nền tảng trong lĩnh vực nghiên văn hoá dân gian các tộc người ở Việt Nam của thế hệ các nhà nghiên cứu đi trước, các nhà khoa học của Viện tiếp tục triển khai các đề tài và công bố các kết quả nghiên cứu mới về văn hoá dân gian dưới dạng tổng thể cũng như các thành tố cụ thể của nó như văn học dân gian, lễ hội, phong tục, nghệ thuật biểu diễn, tri thức dân gian của các tộc người. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, từ khoảng hơn một thập kỉ trở lại đây, các nghiên cứu về văn hoá dân gian đã tập trung  tìm hiểu về các hiện trạng và vai trò của thực hành văn hoá dân gia  trong xã đương đại như: các di sản văn hóa phi vật thể (ca trù, sử thi, quan họ, hát xoan, tín ngưỡng Tứ phủ,…), nghề và làng nghề, văn hóa làng, nghệ nhân dân gian, nghệ thuật diễn xướng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian,... Thêm vào đó, các hiện tượng văn hoá dân gian mới hay văn hoá dân gian đương đại như vè, ca dao, tục ngữ hiện đại, tranh biếm hoạ, ngôn ngữ của giới trẻ, cũng được quan tâm nghiên cứu... Ở mảng nghiên cứu về văn hoá dân gian đương đại, bên cạnh việc sử dụng hướng tiếp cận dựa trên nền tảng lý luận về văn hoá dân gian được xây dựng bởi thế hệ các nhà nghiên cứu đi trước, các cán bộ nghiên cứu của Viện đã vận dụng các hướng lý thuyết, phương pháp luận nghiên mới từ nhiều chuyên ngành khác nhau, như nghiên cứu văn hoá (cultural studies), nhân học văn hoá (cultural anthropology)...
Từ khoảng những năm 2000 trở lại đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, vấn đề tìm hiểu và lý giải sự biến đổi của văn hoá dân gian nói riêng và các thực hành văn hoá nói chung của các tộc người, vùng miền, đặc biệt là văn hoá của các tộc người thiểu số và văn hoá của các cộng đồng ven đô, được các nhà nghiên cứu của Viện dành sự quan tâm đặc biệt. Bởi vì, tuy biến đổi là “hằng số” của văn hoá song sự biến đổi mạnh mẽ của thực hành văn hoá các cộng đồng, tộc người trong mối quan hệ với các chính sách, chương trình phát triển phải được hiểu một cách kỹ lưỡng bởi những biến đổi lớn này có thể tạo ra nhiều thách thức đối với sự phát triển bền vững của các cộng đồng.
Bên cạnh những đóng góp ở khía cạnh nghiên cứu cơ bản cho chuyên ngành và liên ngành, trong chặng đường 40 năm phát triển, Viện Nghiên cứu Văn hóa còn có những đóng góp quan trọng vào việc đánh giá, phản biện chính sách, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để giải quyết nhiều vấn đề mang tính thời sự trong xã hội Việt Nam đương đại. Các đóng góp trong tư vấn chính sách của Viện được thể hiện ở dạng cơ bản sau: 1) Các cán bộ của Viện chủ trì hoặc tham gia với tư cách là thành viên nghiên cứu của các dự án nghiên cứu hành động (action research) do các tổ chức phi chính phủ hoặc các bộ, ngành của Việt Nam đề xướng với mục đích nhằm đưa ra các khuyến nghị chính sách và các can thiệp cụ thể đối với các vấn đề văn hoá, xã hội cụ thể; 2) Dựa trên kết quả nghiên cứu cơ bản trong các hệ đề tài của Viện, đưa ra các khuyến nghị và giải pháp nhằm thay đổi, bổ sung hoặc gợi mở, gợi ý các chính sách mới; và 3) Phối hợp với các tổ chức hoặc địa phương tổ chức các hội thảo, tọa đàm về một chủ đề cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của các tổ chức và địa phương.
Tiêu biểu cho các nghiên cứu hành động, can thiệp mà các cán bộ trong Viện chủ trì thực hiện hay tham gia thực hiện với tư cách là các thành viên nghiên cứu chính trong những năm vừa qua là dự án đánh giá công tác bảo vệ di sản cồng chiêng Tây Nguyên và nhã nhạc cung đình Huế (phối hợp chủ trì thực hiện với UNESCO và Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam), dự án nghiên cứu về tác động của chính sách phát triển đối với sự biến đổi văn hoá các tộc người thiểu số (do Viện Nghiên cứu Kinh tế xã hội và môi trường (iSEE) - tổ chức thực hiện), dự án viết sách hướng dẫn công tác về đa dạng văn hoá cho cán bộ Ủy ban Dân tộc (phối với hợp iSEE và  Ủy ban Dân tộc), dự án nghiên cứu can thiệp bạo lực gia đình trên cơ sở giới (do Tổ chức UNFPA của Liên hợp quốc tài trợ), dự án nghiên cứu phụ nữ trong tiếp cận đất đai trong xã hội Việt Nam đương đại (do UNDP tài trợ), dự án nợ vùng các tộc người thiểu số Tây Nguyên và miền núi phía Bắc (Liên minh Nông nghiệp, CARE và iSEE chủ trì), dự án đánh giá tiêu chí nông thôn mới (do Văn phòng Nông thôn mới của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và UNESCO chủ trì), dự án nghiên cứu về quản trị đô thị từ góc nhìn văn hóa (do Quỹ Châu Á tài trợ),...
Đào tào nguồn nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế 
Từ khi thành lập đến nay, công tác đào tạo nhân lực chất lượng cao trong nghiên cứu văen hoá dân gian và nghiên cứu văn hoá cho các cán bộ nghiên cứu của Viện cũng như cho  ngành nghiên cứu văn hoá của Việt Nam nói chung luôn được chú trọng.Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho các cán bộ của Viện, song song với việc cử cán bộ đi đào tạo sau đại học ở nước ngoài như Bulgary, Hungary, Liên Xô cũ, Mỹ, Anh, Úc, Nhật Bản, Đức, Đài Loan, Trung Quốc và các cơ sở trong nước, bao gồm cả cơ sở đào tạo của Viện, Viện còn tổ chức các khoá tập huấn về phương pháp nghiên cứu, các buổi sinh hoạt khoa học giới thiệu các kết quả nghiên cứu và hướng tiếp cận lý thuyết mới với các thuyết trình viên là các nhà khoa học đầu ngành quốc tế và Việt Nam. Ngoài ra, việc đào tạo nguồn nhân lực trong nghiên cứu văn hóa còn được thực hiện thông qua thực tế thực hiện các đề tài nghiên cứu mà Viện triển khai thực hiện. Các đề tài trọng tâm của Viện luôn có sự tham gia của các nhà nghiên cứu có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm cùng với các nhà nghiên cứu trẻ để các nhà nghiên cứu trẻ có thể học hỏi, đúc rút kinh nghiệm cho mình và dần dần trưởng thành, độc lập dần trong công tác nghiên cứu.
Mặc dù từ 2010 đến nay cơ sở đào tạo của Viện đã được chuyển vào Học viện Khoa học xã hội, song các cán bộ nghiên cứu của Viện vẫn đóng vai chủ yếu về giảng dạy và hướng dẫn học viên cao học và Nghiên cứu sinh ở khoa Văn hóa học của Học viện Khoa học xã hội. Để đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam, Khoa Văn hóa học, với lực lượng nòng cốt là các cán bộ đi tu nghiệp ở nước ngoài, đã chú trọng việc giới thiệu các hệ thống lý thuyết nghiên cứu văn hoá của ngành Nhân học văn hoá và Nghiên cứu văn hoá. Do được tiếp cận một cách khá hệ thống các khuynh hướng lý thuyết nghiên cứu mới, các vấn đề nghiên cứu và hướng tiếp cận của nhiều luận án, luận văn được thực hiện tại Khoa trong nhiều năm qua đã được mở rộng, có nhiều hướng nghiên cứu và kiến giải mới, góp phần đáng kể vào sự phát triển của ngành. Nhiều học viên và nghiên cứu sinh đã trở thành cán bộ nghiên cứu tại các viện nghiên cứu chuyên ngành hay cán bộ giảng dạy tại các trường đại học ở trung ương và địa phương. Các học viên và nghiên cứu sinh tốt nghiệp tại Khoa là những người tiếp tục chuyển tải những lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu mới được học tại Khoa, góp phần đào tạo các nguồn lực nghiên cứu mới chất lượng cao cho ngành nghiên cứu văn hoá của Việt Nam.
Ngoài tham gia đào tạo tại Khoa Văn hoá học, nhiều cán bộ của Viện còn tham gia giảng dạy và hướng dẫn học viên cao học và nghiên cứu sinh ở các cơ sở đào tạo khác như: Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm nghệ thuật trung ương, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Nội vụ, Học viện Chính trị An ninh nhân dân,… 
Đối ngoại và hợp tác quốc tế là mảng công việc được Viện Nghiên cứu Văn hóa chú trọng từ sớm. Trước đổi mới 1986, Viện đã có quan hệ hợp tác với nhiều nước khối Đông Âu đặc biệt là Liên Xô (cũ), Bungary và Hunggary và thông qua sự hợp tác này,  nhiều nhà khoa học của Viện đã được cử đi đào tạo ở các quốc gia này (GS. TS. Ngô Đức Thịnh, GS.TS. Nguyễn Xuân Kính, PGS.TS. Nguyễn Quang Lê, PGS.TS. Võ Quang Trọng được đào tạo ở Liên Xô, GS.TSKH. Phan Đăng Nhật và GS.TS. Lê Hồng Lý, GS.TS. Lê Ngọc Canh được đào tạo ở Bungary). Từ  đổi mới 1986 đến nay, công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế được triển khai ngày càng sâu rộng. Hiện nay, Viện đã thiết lập được nhiều mối quan hệ hợp tác trong nghiên cứu, trao đổi học thuật và đào tạo nguồn nhân lực với một số trường đại học ở Anh (Đại học East Anglia), Mỹ (Đại học Washignton, Viện Harvard - Yenching), Đức (Viện Max Planck, Đại học Bielefield), Pháp (Đại học Paris Diderot, Đại học Aix-Marseille), Đài Loan (Đại học Thành Công), Hàn Quốc (Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Pukyong, Busan), Indonesia (đại học Nông nghiệp Bogor, Đại học Gadjah Mada), Nepal (Viện Nghiên cứu cao cấp về khoa học xã hội), Mexico (Viện Nhân học), Đan Mạch (Đại học Copenhagen) Trung Quốc (Đại học dân tộc Quảng Tây, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội) , Lào (Viện Văn hoá, Viện Hàn lâm khoa học xã hội), Nga (Viện Hàn lâm Khoa học, Đại học Kinh tế cao cấp Saint Peterburg), Úc (Đại học Quốc gia, Đại học La Trobe), Nhật (Đại học Tokyo, Bảo tàng Osaka), Ghana (Đại học Khoa học và Công nghệ Kwame Nkrumah ), Thái Lan (Đại học Chiang Mai), vv...
Hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế trong những năm gần đây diễn ra chủ yếu theo ba hình thức: 1) Mời các học giả nước ngoài có uy tín đến trình bày các nghiên cứu mới theo dạng seminar hoặc tổ chức các khoá đào tạo về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu tại Viện; 2) Đồng tổ chức các hội thảo, toạ đàm quốc tế (ví dụ: Tổ chức tiểu ban "Thách thức các giả định về FLEGT" [Challenging assumptions in FLEGT] trong hội thảo quốc tế FLARE tại Đại học Copenhagen, Đan Mạch diễn ra từ ngày 18-20/10/2018);  đồng tổ chức Toạ đàm khoa học "Tính hợp pháp của gỗ" [timber legality symposium] tại Đại học Copenhaghen Đan Mạch vào ngày 17/12/2018, đồng tổ chức toạ đàm quốc tế "REDD+: Sự thâu tóm rừng mãi? với đại học Copenhagen và học Viện Nông nghiệp Việt Nam tại Hà Nội vào năm 2017, vv..) ; 3)  Thực hiện các dự án nghiên cứu hợp tác giữa Viện và các trường đại học, trung tâm nghiên cứu nước ngoài (Từ năm 2014-2018, Viện đã đồng chủ trì thực hiện ba dự án hợp tác quốc tế với Đại học East Anglia (Anh), Đại học Gadjah Mada (Indonesia) và đại học Khoa học và Công nghệ Kwame Nkrumah (Ghana), đại học Copenhagen (Đan Mạch), Viện Nhân học (Mexico), Viện Viện Nghiên cứu cao cấp về khoa học xã hội (Nepal).
Việc tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nhà khoa học và các cơ sơ nghiên cứu khoa học quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc đạo tạo nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện cho các nhà khoa học của viện tiếp cận, cập nhật các nghiên cứu và khuynh hướng lý thuyết mới, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu của các cán bộ của cơ quan theo hướng chuẩn quốc tế. Các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế  cũng tạo ra cơ hội để các nhà khoa học của Viện triển khai các nghiên cứu so sánh giữa Việt Nam và các nước, xuất bản quốc tế, từ đó nâng cao vị thế khoa học của Viện.
Định hướng phát triển
Có thể nói trong chặng đường 40 năm xây dựng, hình thành và phát triển, các thế hệ cán bộ của Viện Nghiên cứu văn hóa đã có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian và nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam. Nhiều nghiên cứu khoa học của Viện đã đặt nền tảng về mặt lý luận và phương pháp luận nghiên cứu cho ngành nghiên cứu văn hoá dân gian và nghiên cứu văn hoá, góp phần đưa Viện trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực văn hoá học và văn hoá dân gian ở Việt Nam.
Kế thừa những thành tựu to lớn đã đạt được, trong những năm tới, Viện sẽ tiếp tục đẩy mạnh công việc nghiên cứu khoa học cơ bản, tiếp tục cập nhật các khuynh hướng lý thuyết nghiên cứu văn hoá của thế giới để đáp ứng được sự phát triển về mặt học thuật của ngành nghiên cứu văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Bên cạnh nghiên cứu văn hoá truyền thống trong xã hội đương đại, Viện vẫn sẽ tiếp tục mở rộng các hướng nghiên cứu để quan tâm đến những hiện tượng văn hóa mới xuất hiện hay những vấn đề văn hóa đang được bàn luận nhiều trong xã hội. Ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh các nghiên cứu cơ bản, Viện cũng nỗ lực gắn các kết quả nghiên cứu cơ bản ấy với thực tiễn,  đúc kết các kết quả nghiên cứu thành các luận cứ khoa học để có thể sử dụng tốt hơn nữa cho việc tư vấn, phản biện chính sách, từ đó có được những sự điều chỉnh nhất định nhằm thúc đẩy việc thực thi chính sách được hiệu quả hơn, gắn chặt chẽ hơn với thực tiễn đời sống, từ đó góp phần phát huy được các truyền thống văn hoá các tộc người cho phát triển bền vững.
Các tin đã đưa ngày: