Giới thiệu Viện Nghiên cứu văn hóa

21/05/2012

Viện Nghiên cứu văn hoá 30 năm xây dựng và trưởng thành


1. Về quá trình thành lập, chức năng và đội ngũ cán bộ

Theo Quyết định số 315/ KHXH-QĐ ngày 26 tháng 12 năm 1979 của Chủ nhiệm ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam Nguyễn Khánh Toàn, Ban Văn hoá dân gian đã được thành lập, trực thuộc ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Ngày 9 tháng 9 năm 1983, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã kí quyết định thành lập Viện Văn hoá dân gian trên cơ sở Ban Văn hoá dân gian. Ngày 22 tháng 5 năm 1993, trong Nghị định của Chính phủ về việc thành lập Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Văn hoá dân gian được đổi tên là Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian. Ngày 15 tháng 1 năm 2004, Viện Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập trên cơ sở của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian chuyển thành Viện Nghiên cứu văn hoá.
Như vậy, sau chặng đường 25 năm nghiên cứu văn hoá dân gian, một mặt tiếp tục củng cố và phát huy thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu này, mặt khác, Viện Nghiên cứu văn hoá đã mở rộng phạm vi nghiên cứu và hoạt động:
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về văn hoá học và văn hoá Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học về phát triển văn hoá, đóng góp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược quy hoạch và chính sách phát triển bền vững, đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ về văn hoá học và văn hoá dân gian; tham gia phát triển tiềm lực khoa học về văn hoá của cả nước.
- Tiến hành nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về văn hoá Việt Nam (bao gồm văn hoá người Việt và các dân tộc thiểu số). Tổ chức điều tra sưu tầm, bảo quản và phát huy di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc Việt Nam.
- Tổ chức thẩm định và tham gia tư vấn về mặt khoa học cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội ở các bộ, ngành, địa phương.
Tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2015, Viện có 41 cán bộ trong biên chế, trong đó có 2 giáo sư, 5 phó giáo sư, 20 tiến sĩ, 15 thạc sĩ. Trong số các thạc sĩ, có 7 người đang thực hiện luận án tiến sĩ tại cơ sở đào tạo của Viện và các cơ sở khác. Nhiều cán bộ của Viện đã hoặc đang tu nghiệp ở Nga, Bungari, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Nhật Bản, Ấn Độ, Xin-ga-po,...
2. Kết quả nghiên cứu khoa học
2.1. Trong 30 năm qua, Viện Nghiên cứu văn hoá đã đạt được những thành tựu dễ thấy về việc nghiên cứu văn hoá dân gian. Các cuốn sách: Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian (Đinh Gia Khánh, 1989), Văn hoá dân gian những lĩnh vực nghiên cứu (nhiều tác giả, Nguyễn Xuân Kính, Lê Ngọc Canh, Ngô Đức Thịnh tổ chức bản thảo, 1989), Văn hoá dân gian những phương pháp nghiên cứu (nhiều tác giả, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính tổ chức bản thảo, 1990); Quan niệm về folklore (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1990), Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt Nam (Vũ Ngọc Khánh, 1991), Các tác gia nghiên cứu văn hoá dân gian (Nguyễn Xuân Kính chủ biên, 1995),... là những công trình từng bước xây dựng cơ sở lí luận khoa học của ngành nghiên cứu văn hoá dân gian ở Việt Nam.
Nghiên cứu văn hoá dân gian dưới dạng tổng thể, có các cuốn: Địa chí Vĩnh Phú: văn hoá dân gian vùng đất Tổ (Ngô Quang Nam, Xuân Thiêm đồng chủ biên, 1986), Địa chí văn hoá dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (Đinh Gia Khánh, Trần Tiến đồng chủ biên, 1991, tái bản 2008), Văn hoá dân gian Ê Đê (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1993), Văn hoá dân gian Mnông (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1993), Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á (Đinh Gia Khánh, 1993), Văn hoá dân gian với sự phát triển của xã hội Việt Nam (Đinh Gia Khánh, 1995), Văn hoá dân gian làng ven biển (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 2000), Những sinh hoạt văn hoá dân gian của một làng ven đô: làng Đăm (Lê Hồng Lý, Phạm Thị Thuỷ Chung, 2003).
Nghiên cứu từng thành tố của văn hoá dân gian, về văn học dân gian có các cuốn: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám 1945) (Phan Đăng Nhật, 1981), Sử thi Ê Đê (Phan Đăng Nhật, 1991), Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân Kính, 1993, 2004, 2006, 2007), Truyện Nôm nguồn gốc và bản chất thể loại (Kiều Thu Hoạch, 1993), Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới: thể loại và triển vọng (Phạm Minh Hạnh, 1993), Cổ tích thần kì người Việt: đặc điểm cấu tạo cốt truyện (Tăng Kim Ngân, 1994, 1996), Sử thi thần thoại M'nông (Đỗ Hồng Kỳ, 1996), Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi hiện đại Việt Nam (Võ Quang Trọng, 1997), Sử thi Tây Nguyên (Phan Đăng Nhật, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính tổ chức bản thảo, 1998), Vùng sử thi Tây Nguyên (Phan Đăng Nhật, 1999), Nghiên cứu sử thi Việt Nam (Phan Đăng Nhật, 2001), Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại (Kiều Thu Hoạch, 2007), Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông (Đỗ Hồng Kỳ, 2008),...; về tín ngưỡng, hội lễ và lễ tiết có các cuốn: Lễ hội cổ truyền (Lê Trung Vũ chủ biên, 1992), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (Đinh Gia Khánh, Lễ Hữu Tầng đồng chủ biên, 1994), Tín ngưỡng làng xã (Vũ Ngọc Khánh, 1994), Đạo Mẫu ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1996, 2002), Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng (Lê Văn Kỳ, 1997), Tết cổ truyền của người Việt (Lê Trung Vũ chủ biên, 1998), Nghi lễ vòng đời người (Lê Trung Vũ chủ biên, 1999), Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 2001), Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ (Nguyễn Quang Lê, 2001), Lễ hội Nàng Hai của người Tày Cao Bằng (Nguyễn Thị Yên, 2003), Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 2004), Nghi lễ hôn nhân của người Kinh ở Trung Quốc (Nguyễn Phương Châm, 2006), Nghi lễ và phong tục các tộc người ở Tây Nguyên (Ngô Đức Thịnh tuyển chọn và giới thiệu, 2006), Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền (Ngô Đức Thịnh, 2007), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng (Lê Hồng Lý, 2008), Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng (Nguyễn Thị Yên, 2009)...; về hương ước và luật tục có các cuốn: Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật đồng chủ biên, 2000), Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh, 2003), Luật tục với đời sống (Phan Đăng Nhật, 2007),...; về nghệ thuật biểu diễn dân gian có các cuốn: Nhạc cụ gõ cổ truyền Việt Nam (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải, 1989), Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải, 1995), Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam: một số dân tộc (Lê Ngọc Canh, 1998), Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ của người Jơ Rai (Tô Đông Hải, 2002),...; về nghề và làng nghề có các cuốn: Lược truyện thần tổ các ngành nghề (Vũ Ngọc Khánh, 1990), Gốm sành nâu ở Phù Lãng (Trương Minh Hằng, 2007); về trang phục có cuốn sách Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam (Ngô Đức Thịnh, 1994); về nông cụ có cuốn sách Tìm hiểu nông cụ cổ truyền Việt Nam: lịch sử và loại hình (Ngô Đức Thịnh, 1996). 2004), (Nguyễn Phương Châm, 2006), (Ngô Đức Thịnh tuyển chọn và giới thiệu, 2006), (Ngô Đức Thịnh, 2007), (Lê Hồng Lý, 2008), (Nguyễn Thị Yên, 2009)...; về hương ước và luật tục có các cuốn: (Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật đồng chủ biên, 2000), (Ngô Đức Thịnh, 2003), (Phan Đăng Nhật, 2007),...; về nghệ thuật biểu diễn dân gian có các cuốn: (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải, 1989), (Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải, 1995), (Lê Ngọc Canh, 1998), (Tô Đông Hải, 2002),...; về nghề và làng nghề có các cuốn: (Vũ Ngọc Khánh, 1990), (Trương Minh Hằng, 2007); về trang phục có cuốn sách (Ngô Đức Thịnh, 1994); về nông cụ có cuốn sách (Ngô Đức Thịnh, 1996).
ở trên là những công trình lí luận, nghiên cứu văn hoá dân gian. Bên cạnh đó, Viện đã tổ chức biên soạn những bộ sách lớn, trở thành sách công cụ cung cấp tư liệu một cách có hệ thống cho việc nghiên cứu: Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật đồng chủ biên, 1995, 2001), Kho tàng tục ngữ người Việt (Nguyễn Xuân Kính chủ biên, 2002), Tổng tập văn học dân gian người Việt (nhiều soạn giả, 2002 - 2006, 19 tập, 20 quyển), Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (nhiều soạn giả, 2007 - 2011, 23 tập). Đặc biệt là bộ sách Kho tàng sử thi Tây Nguyên. Bộ sách này là một phần kết quả của Dự án cấp nhà nước Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên (2001 - 2007). Từ năm 2004 đến năm 2007, 75 tác phẩm sử thi của sáu dân tộc Ba Na, Chăm, Ê Đê, Mơ Nông, Ra Glai, Xơ Đăng đã được xuất bản, in thành 62 tập khổ lớn. Mỗi tập sách có độ dài trên dưới 1000 trang, thường công bố trọn vẹn một tác phẩm sử thi dưới hình thức song ngữ: tiếng dân tộc và tiếng phổ thông. Chân dung nghệ nhân, người lưu giữ và hát kể sử thi được in trang trọng ở đầu tác phẩm. Từ năm 2009, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã phê duyệt một nhiệm vụ cấp bộ. Theo đó, từ năm 2009 đến năm 2011, trên cơ sở dữ liệu của Dự án vừa nêu, Viện Nghiên cứu văn hoá sẽ tổ chức biên dịch và xuất bản tiếp 25 tác phẩm sử thi nữa.
Ngoài ra, những cuốn sách sau đã tập hợp các tư liệu về hương ước và luật tục: Luật tục Ê Đê: tập quán pháp (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1996, 2001), Hương ước Hà Tĩnh (Võ Quang Trọng, Phạm Quỳnh Phương, 1996), Luật tục Mnông: tập quán pháp (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1998), Hương ước Nghệ An (Ninh Viết Giao chủ biên, 1998), Luật tục Jrai (Phan Đăng Nhật, Vũ Ngọc Bình đồng chủ biên, 1999), Luật tục Thái ở Việt Nam: tập quán pháp (Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng, 1999, 2003), Hương ước Thanh Hoá (Võ Quang Trọng, Vũ Ngọc Khánh, 2000), Hương ước Thái Bình (Nguyễn Thanh, 2000), Luật tục Chăm và luật tục Raglai (Phan Đăng Nhật chủ biên, 2003),... Cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt (Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang, Nguyễn Huy Hồng, Trần Hoàng, 1997) tập hợp và hệ thống hoá các tư liệu về đồng dao và trò chơi. Thuộc loại sách công cụ tra cứu, còn có các cuốn: Thư mục văn hoá dân gian (Lê Hồng Lý chủ biên, 1999), Tổng mục lục Tạp chí Văn hoá dân gian 1983 - 2003 (Trịnh Đình Niên, 2003), Địa danh Việt Nam trong tục ngữ, ca dao (Vũ Quang Dũng, 2007), Danh mục luận văn luận án tại cơ sở đào tạo Viện Nghiên cứu văn hoá (Lưu Danh Doanh, Trần Thị Thu Hà, Phan Lan Hương, Văn Bích Thảo, 2008).
Việc thông tin, dịch thuật những thành tựu lí luận và kết quả nghiên cứu của nước ngoài được thể hiện trong các bài dịch của Phạm Lan Hương (từ tiếng Nga), Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Thúy Loan (từ tiếng Trung), Chu Xuân Giao (từ tiếng Nhật), Phạm Quỳnh Phương, Hoàng Cầm, Nguyễn Kim Hoa (từ tiếng Anh) công bố trên Tạp chí Văn hoá dân gian và trong hai tập sách: Folklore thế giới một số công trình nghiên cứu cơ bản (Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan đồng chủ biên, 2005), Folklore một số thuật ngữ đương đại (Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan đồng chủ biên, 2005).
2.2. Thực ra, trong quá trình nghiên cứu văn hoá dân gian, các tác giả đều ít hay nhiều đã quan tâm đến văn hoá. Từ sau khi Viện đổi tên và mở rộng phạm vi nghiên cứu, việc nghiên cứu văn hoá được quan tâm hơn, thể hiện trong hội thảo về văn hoá doanh nhân, trong hội nghị thông báo văn hoá hằng năm, trong chương trình biên soạn bộ Lịch sử văn hoá Việt Nam. Theo đề cương đã được phê duyệt, công trình sẽ gồm sáu tập, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2012. Những kết quả ban đầu của việc nghiên cứu văn hoá trước và sau khi Viện đổi tên có thể kể đến: Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1993), Các vùng văn hoá Việt Nam (Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận chủ biên, 1995), Con người môi trường và văn hoá (Nguyễn Xuân Kính, 2003, 2009), Văn hoá, văn hoá tộc người và văn hoá Việt Nam (Ngô Đức Thịnh, 2006), Biến đổi văn hoá ở các làng quê hiện nay (Nguyễn Thị Phương Châm, 2009),...(1)
3. Kết quả đào tạo sau đại học
Bên cạnh việc nghiên cứu khoa học, Viện còn có chức năng đào tạo sau đại học. Tháng 11 năm 1994, Viện được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo cao học chuyên ngành văn hoá dân gian. Sau năm khoá đào tạo chuyên ngành văn hoá dân gian, theo quy định của Luật Giáo dục đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998, Viện liên kết với Trường Đại học văn hoá Hà Nội đào tạo cao học chuyên ngành văn hoá học. Cho đến nay có 310 học viên cao học, trong số này đã bảo vệ luận văn thạc sĩ là 188 người. Đáng chú ý, với sự tài trợ của quỹ Ford, Viện đã đào tạo riêng một khóa gồm 12 học viên là người bản địa Tây Nguyên. Tháng 3 năm 2001, Viện được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ chuyên ngành văn hoá dân gian. Đã có 19 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, trong đó nhiều luận án đã được in thành sách, 36 nghiên cứu sinh (chưa kể số nghiên cứu sinh khóa 9) đang tiếp tục theo học.
4. Mối quan hệ giữa Viện và Tạp chí Văn hoá dân gian
 Tạp chí Văn hoá dân gian xuất bản từ năm 1983, ra ba tháng một kì, từ năm 2001 đến nay, ra hai tháng một kì.
Trong quan hệ với Viện Văn hoá dân gian, Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian trước đây và Viện Nghiên cứu văn hoá hiện nay, Tạp chí Văn hoá dân gian vừa là cơ quan ngôn luận của Viện, vừa là diễn đàn khoa học của ngành và của bạn đọc quan tâm. Theo quy định hiện nay, Tạp chí Văn hoá dân gian được tổ chức và hoạt động theo giấy phép hoạt động báo chí, Luật Báo chí, các văn bản pháp quy khác về báo chí. Vì mối quan hệ như vậy cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi biết rằng, Tạp chí Văn hoá dân gian có quyết định thành lập từ ngày 26 tháng 1 năm 1983; còn đến ngày 9 tháng 9 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng mới ra Nghị định thành lập Viện Văn hoá dân gian thuộc ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Kể từ khi Ban Văn hoá dân gian ra đời (cuối năm 1979) cho đến nay, Ban đã được nâng lên thành Viện, Viện đã hai lần đổi tên, thậm chí ở lần sau Viện đã được giao nhiệm vụ mở rộng phạm vi, đối tượng nghiên cứu. Trong khi đó, từ tháng 1 năm 1983 đến nay, về cơ bản Tạp chí Văn hoá dân gian vẫn là cơ quan chuyên ngành về văn hoá dân gian. Trải qua một chặng đường dài, tuy khó khăn, thử thách là không ít, nhưng cho đến nay về cơ bản, Tạp chí Văn hoá dân gian đã thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích. Trong những năm gần đây, Tạp chí đã công bố nhiều bài viết có chất lượng khoa học, hình thức trình bày đã tạo nên một dáng vẻ riêng trong sự phong phú, đa dạng của hàng trăm tờ tạp chí trong cả nước. Từ sau khi Viện chuyển thành Viện Nghiên cứu văn hoá, bên cạnh việc công bố các bài viết về văn hoá dân gian, việc Tạp chí Văn hoá dân gian dành một tỉ lệ thích hợp cho việc đăng tải các bài viết về đối tượng rộng hơn phạm vi văn hoá dân gian là việc làm nối tiếp một truyền thống đã có từ trước.
5. Sự hợp tác giữa Viện với các địa phương và các cơ quan
Trong các năm 1986 - 1995, Viện đã hợp tác với các tỉnh biên soạn và xuất bản các tập địa chí văn hoá dân gian các tỉnh Vĩnh Phú(2), Hà Nội, Nghệ Tĩnh(3). Trong các năm 1996 - 2000, Viện đã hợp tác với các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Thái Bình biên soạn và công bố các tập hương ước người Việt. Trong các năm 1996 - 2003, Viện đã hợp tác với các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Ninh Thuận biên soạn và xuất bản luật tục Ê Đê, Mơ Nông, Thái, Gia Rai, Chăm. Để thực hiện Dự án sử thi cấp nhà nước và nhiều đề tài cấp bộ khác, hàng chục năm nay, Viện đã hợp tác có hiệu quả với các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận. Viện đã có quan hệ mật thiết và nhận được sự cộng tác, giúp đỡ có hiệu quả của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam(4), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Trường Đại học văn hoá Hà Nội, có quan hệ tốt với nhiều cơ quan, tổ chức khác.
6. Kết luận

Nhìn lại chặng đường 30 năm, cơ quan đã ba lần đổi tên, đã năm lần chuyển trụ sở, nhiều lớp cán bộ đã ra đi hoặc nghỉ hưu. Thời gian đầu, Viện gặp khó khăn, thử thách không ít. Đến nay, Viện đã trưởng thành về nhiều mặt, có một vị thế nhất định bởi chất lượng và số lượng của các công trình nghiên cứu khoa học, uy tín của cơ sở đào tạo... Năm 1996, GS. Nguyễn Đổng Chi và GS. Đinh Gia Khánh có cụm công trình được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh(5). Năm 2001, PGS. TS. Lê Ngọc Canh có cụm tác phẩm được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Năm 2005, GS. TSKH. Phan Đăng Nhật có cụm công trình được nhận Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ. Trong dịp kỉ niệm này, tập thể Viện Nghiên cứu văn hoá tri ân các thế hệ đi trước, cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của lãnh đạo cấp trên qua các thời kì (ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Khoa học xã hội Việt Nam) và các cơ quan chức năng, cảm ơn sự hợp tác giúp đỡ của nhiều tổ chức, cơ quan, cá nhân và các cộng tác viên. Những bài học thành công và chưa thành công trong thời gian 30 năm qua sẽ là hành trang quý báu của các thế hệ hôm nay trên con đường tiến lên phía trước.

Viện Nghiên cứu văn hoá

Tài liệu tham khảo

 (1) Các công trình kể tên là lấy theo tiêu chí do các tác giả là cán bộ của Viện thực hiện, bao gồm cả các công trình do cơ quan khác đầu tư bản thảo (hoặc xuất bản). 

 

(2) Hiện nay là các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ. 

(3) Hiện nay là các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.  

(4) Từ năm 1994 đến năm 2009, Hội phối hợp với Viện tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học. Nhiều hội viên công tác ở Viện đã tham gia thực hiện nhiều hoạt động của Hội.  

(5) Trong cụm công trình được tặng Giải thưởng của GS. Nguyễn Đổng Chi, tập 5 của bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh (chủ biên) là những sách được hoàn thành, xuất bản khi GS. công tác ở viện.   

 

Các tin đã đưa ngày: