Kết quả thực hiện Dự án "Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên"

20/10/2012

Năm 2001, Chính phủ giao cho Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì, phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận thực hiện Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên.

Tổng kinh phí được giao là 17.325.000.000đ (mười bảy tỷ, ba trăm hai lăm triệu đồng).
Thời gian thực hiện từ năm 2001 đến năm 2007.
GS. TS. Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam là Trưởng ban Ban Chỉ đạo dự án, GS. TS. Ngô Đức Thịnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hoá là Giám đốc điều hành Dự án. Từ ngày 25 tháng 4 năm 2005, GS. TS. Nguyễn Xuân Kính, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hoá được cử giữ chức Giám đốc Điều hành Dự án.
Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên được chia thành ba tiểu dự án:
- Tiểu dự án 1: Điều tra, sưu tầm sử thi Tây Nguyên
- Tiểu dự án 2: Văn bản hoá và biên dịch sử thi Tây Nguyên
- Tiểu dự án 3: Xuất bản, lưu trữ và bảo quản sử thi Tây Nguyên.
 
Phần thứ nhất
Kết quả thực hiện tiểu dự án 1
 
I/ Mục tiêu
Điều tra, khảo sát hiện trạng sinh hoạt sử thi trên địa bàn Tây Nguyên và các vùng phụ cận; Sưu tầm khoảng 2250 băng ghi âm, gồm 200 tác phẩm sử thi của đồng bào các dân tộc; Ghi hình khoảng 15 bộ phim tư liệu về diễn xướng của một số nghệ nhân hát kể sử thi tiêu biểu và lưu giữ bằng đĩa CD -ROM, Chụp ảnh tư liệu; Mở một số lớp đào tạo và tập huấn tại chỗ cho cán bộ điều tra - khảo sát - sưu tầm.
II/ Kết quả thực hiện
1) Tổ chức các đợt tập huấn và các hội nghị sơ kết:
- Năm 2001 tổ chức 02 lớp tập huấn về phương pháp điều tra, sưu tầm tại tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Gia Lai.
- Phối hợp với các tỉnh Bình Phước, Kon Tum, Đắc Lắc tổ chức 03 hội nghị sơ kết về việc thực hiện dự án.
2) Về công tác điều tra:
+ Tổ chức các đợt điều tra trên địa bàn các tỉnh Bình Phước, Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Phú Yên... và đã thu được kết quả:
- Điều tra và lập danh sách 388 nghệ nhân hát kể thuộc các dân tộc Ê Đê, Mơ Nông, Ba Na, Xơ Đăng, Ra Glai, Chăm, S'Tiêng, Mạ...
- Lập danh mục tên các tác phẩm hát kể
- Báo cáo của các nhóm về tình hình điều tra, khảo sát ở địa phương
+ Qua kết quả điều tra đã phát hiện được các nghệ nhân hát kể giỏi các tác phẩm sử thi như:
- Các nghệ nhân Điểu Klung, Điểu Klứt, Điểu Mpiơih, Điểu Glơi, Điểu Plang, Me Luynh, Me Jéch (dân tộc Mơ Nông)
- Các nghệ nhân Y Nuh Niê, Oi Chun, Y Ju Niê, Y Djao Niê, Ma Oi, Oi Đức (dân tộc Ê Đê)
- Các nghệ nhân A Lưu, A Đen, A Hon, A Bek, Bok Păh, Yă Hơt, Bok Pơnh, Bok Anep, Y Nheo (dân tộc Ba Na)
- Nghệ nhân A Ar (dân tộc Xơ Đăng)
- Các nghệ nhân Pinăng Thị Thanh, Chamaliaq Thị Jiêng, Katơr Thị Sính, Katơr Thị Cuống, Pô Pâr Thị Ría, Chamaliaq Cường (dân tộc Ra Glai)
- Các nghệ nhân Ma Mơ Lan, Oi Săng (dân tộc Chăm Hơroi)
- Các trí thức người dân tộc phiên âm dịch nghĩa những tác phẩm sử thi như: Điểu Kâu (dân tộc Mơ Nông), Y Wơn Kna, Y Jek Niê Kdăm, Y Kô Niê Kdăm, Ama Bik, Y Điêng, (dân tộc Ê Đê), A Jar, Y Hồng, (dân tộc Xơ Đăng), Y Tưi, Y Kiưch, Siu Pêt (dân tộc Ba Na), Chamaliaq Riya Tiểng (dân tộc Ra Glai), Ka Sô Liễng (dân tộc Chăm Hơroi)
3) Sưu tầm tổng số 5679 băng ghi âm 90phút =801 tác phẩm hát kể
4) Chuyển đổi tín hiệu từ băng cát sét các tác phẩm hát kể sang tín hiệu kỹ thuật số 5013 đĩa CD AUDIO = 333 tác phẩm hát kể
5) Quay 15 bộ phim tư liệu về diễn xướng sử thi của các nghệ nhân tiêu biểu (5 phim về nghệ nhân hát kể sử thi Ê Đê, 3 phim về nghệ nhân hát kể sử thi Ba Na, 3 phim về nghệ nhân hát kể sử thi Ra Glai, 3 phim hát kể sử thi Mơ Nông, 1 phim về nghệ nhân hát kể sử thi Xơ Đăng)
6) Xây dựng hệ thống bảo quản, lưu trữ tài liệu (băng ghi âm, băng hình, album ảnh, bản thảo, máy móc...).
III/ Đánh giá
Nhiều mục tiêu của tiểu Dự án này đã được thực hiện tốt và vượt yêu cầu. Theo kế hoạch, số tác phẩm được sưu tầm sẽ là 200 với khoảng 2.250 băng ghi âm, thực tế đạt được là 801 tác phẩm với 5.679 băng ghi âm. Đã tổ chức các đợt tập huấn, các hội nghị sơ kết theo đúng kế hoạch. Đã điều tra và lập danh sách các nghệ nhân. Đã ghi hình đối với 15 nghệ nhân hát kể sử thi tiêu biểu. Riêng số lượng ảnh tư liệu chưa đạt con số như kế hoạch.
 
Phần thứ hai
Kết quả thực hiện tiểu Dự án 2
 
I/ Mục tiêu
1/ Phiên âm và dịch nghĩa 100 tác phẩm tiêu biểu.
2/ Biên tập văn học 80 tác phẩm, trong số này sẽ chọn ra 75 tác phẩm để xuất bản.
II/ Kết quả thực hiện
Nguyên tắc chung của việc phiên âm là thực hiện bản phiên âm tiếng dân tộc sao cho tương đối sát với lời hát kể, vì đây coi như là cơ hội cuối cùng và duy nhất chúng ta có thể bảo tồn và lưu giữ nguyên bản tác phẩm sử thi truyền miệng. Nguyên tắc chung của việc dịch nghĩa là dịch đúng nghĩa, sát nghĩa từ tiếng dân tộc ra tiếng Việt, cố gắng chú giải tối đa (trong phạm vi có thể) các từ cổ, các địa danh, các động thực vật không có thực (chỉ có trong thế giới sử thi tưởng tượng).
Trong số 801 sử thi đã sưu tầm được, Dự án đã tiến hành phiên âm 123 tác phẩm (có phụ lục kèm theo). Đã dịch nghĩa được 115 tác phẩm (có phụ lục kèm theo).
115 tác phẩm sử thi đã được phiên âm dịch nghĩa thuộc 7 dân tộc: Ba Na (39 tác phẩm); Chăm (2 tác phẩm); Ê Đê (36 tác phẩm); Gia Rai (2 tác phẩm); Mơ Nông (27 tác phẩm); Ra Glai (5 tác phẩm); Xơ Đăng (4 tác phẩm).
Riêng sử thi Gia Rai mặc dù đã sưu tầm và phiên âm được 3 tác phẩm,   nhưng bản dịch của 2 tác phẩm không đạt yêu cầu, còn 1 tác phẩm cho đến nay vẫn không tìm được người dịch.
Việc phiên âm dịch nghĩa các tác phẩm sử thi của 7 dân tộc nói trên đều do các nghệ nhân và một vài trí thức người dân tộc tiến hành.
Đối với các tác phẩm sử thi Ba Na, có 6 người phiên âm và dịch nghĩa.
Đối với các sử thi Chăm, chỉ có một người dịch là ông Ka Sô Liễng (một trí thức dân tộc, đã từng tập kết ra miền Bắc, trước khi nghỉ hưu là Phó Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Phú Yên).
Đối với sử thi Ê Đê, có 13 người phiên âm, dịch nghĩa (trong số này có anh Y Chen Niê, người đã tốt nghiệp đại học tiếng Anh, có trình độ Thạc sĩ Văn hoá học do Viện Nghiên cứu văn hoá đào tạo, hiện là cán bộ giảng dạy Trường Đại học Tây Nguyên; có nhà văn Y Điêng, cán bộ tập kết đã tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, hiện đang nghỉ hưu ở Phú Yên).
Đối với sử thi Mơ Nông, chỉ có một trí thức dân tộc duy nhất là ông Điểu Kâu (sinh năm 1935) phiên âm, dịch nghĩa. Ông sống ở Đắc Nông, thường xuyên được Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Đắc Lắc mời về Buôn Ma Thuột dạy tiếng dân tộc cho các cán bộ người Kinh.
Đối với sử thi Ra Glai, có 3 người phiên âm, dịch nghĩa là ông Chamaliq Riya Tiẻng (người Ra Glai), ông Sử Văn Ngọc (một trí thức người Chăm, đã nghỉ hưu), ông Nguyễn Thế Sang (người Kinh, đã từ trần).
Đối với sử thi Xơ Đăng chỉ có một người duy nhất phiên âm, dịch nghĩa là ông A Jar (người Xơ Đăng, hiện sống ở tỉnh Kon Tum).
Nếu không có người dân tộc thì các tác phẩm sử thi không dịch ra được. Hai người Kinh (Việt) là ông Nguyễn Thế Sang (Khánh Hoà), ông Trương Bi (Đắc Lắc) có tham gia vào công việc này nhưng họ không phiên âm và dịch nghĩa độc lập được một tác phẩm nào.
Trong số những người dân tộc tiến hành công việc dịch nghĩa và phiên âm, có người đã tốt nghiệp cao học. Trừ trường hợp Thạc sĩ Y Chen Niê, còn tất cả đều rất yếu về tiếng Việt, Vì thế nếu không có người Kinh biên tập văn học (sửa lỗi chính tả, ngữ pháp; thậm chí phải gặp họ hoặc gặp nghệ nhân hát kể để hỏi lại, dịch lại) thì không thể nào công bố được.
Đã có 30 người tiến hành biên tập văn học đối với 80 tác phẩm sử thi của 6 dân tộc. Tất cả đều là người Kinh.
Xét về nơi cư trú và công tác, số người biên tập văn học được phân bố như sau:
+ ở Hà Nội có 26 người (trong đó ở Viện Nghiên cứu văn hoá 14 người; Viện Văn học 03 người; Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 02 người; Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội 02 người; Viện Dân tộc học 01 người; Viện Nghiên cứu tôn giáo 01 người; Nhà xuất bản Văn hoá - thông tin 02 người; giáo viên cấp ba về hưu 01 người).
+ ở Tp Hồ Chí Minh có 01 người (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn).
+ ở Đắc Lắc có 01 người.
+ ở Kon Tum có 01 người.
+ ở Gia Lai có 01 người.
Xét về học vấn, GS.TSKH (01 người); GS.TS (02 người); PGS.TS (05 người); PGS (01 người); Tiến sĩ (09 người); Thạc sĩ (06 người); Cử nhân (06 người).
Xét về số lượng tác phẩm biên tập, người biên tập ít nhất là tham gia biên tập 01 tác phẩm; người biên tập nhiều nhất là PGS.TS. Võ Quang Trọng (13 tác phẩm), TS. Đỗ Hồng Kỳ (biên tập độc lập và cùng biên tập tổng cộng là 10 tác phẩm). Có người biên tập sử thi của 3 dân tộc như: Thạc sĩ Bùi Thiên Thai (Ba Na, Mơ Nông, Ê Đê); Thạc sĩ Nguyễn Việt Hùng (Ba Na, Mơ Nông, Ra Glai); lại có những người chủ yếu biên tập tác phẩm theo một vài tộc người (PGS.TS. Võ Quang Trọng chuyên về sử thi Ba Na, Thạc sĩ Nguyễn Quang Tuệ chuyên về sử thi Ba Na, GS.TSKH. Phan Đăng Nhật chuyên về sử thi Chăm, PGS.TS. Vũ Anh Tuấn chuyên về sử thi Ra Glai, TS. Đỗ Hồng Kỳ chuyên về sử thi Mơ Nông và Ê Đê).
Nhìn chung việc dịch nghĩa và biên tập văn học mới là những nỗ lực ban đầu, để có thể công bố được. Theo thông lệ quốc tế, từ lúc sưu tầm cho đến lúc công bố tác phẩm sử thi là vài chục năm. ở nước ta, ai cũng biết trường hợp nhà dân tộc học Nguyễn Hữu Thấu dịch và chú giải sử thi Đăm Săn trong vòng 15 năm rồi mới công bố. Trong Lời giới thiệu ở đầu mỗi tác phẩm sử thi được xuất bản, GS.TS. Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trưởng ban Ban chỉ đạo Dự án đã nói rõ:
Phần biên dịch do các nghệ nhân dân tộc kết hợp với các nhà chuyên môn thực hiện trên nguyên tắc cố gắng chuyển tải nội dung tác phẩm sử thi ra tiếng phổ thông tương đối sát đúng với bản ngữ, giữ được tới mức tối đa phong cách tư duy, ngôn ngữ giàu hình ảnh của dân tộc. Do khả năng cũng như thời gian quá hạn hẹp dành cho việc phiên âm, biên dịch và biên tập mỗi tác phẩm, nên trong bản in đầu tiên này, chúng tôi đành phải tự bằng lòng với mức độ thô phác và còn nhiều khiếm khuyết. Bởi vì chúng tôi nhận thức rằng, việc điều tra, sưu tầm, phiên âm, biên dịch và biên tập bộ sách đồ sộ này không phải chỉ là công việc của một số nhà sưu tầm và nghiên cứu của một thế hệ trong chưa đầy mười năm, mà phải là của mấy thế hệ trong nhiều thập kỷ. Hy vọng các thế hệ kế tiếp sẽ tiếp tục hoàn chỉnh sản phẩm đầu tiên còn thô phác này.
III/ Đánh giá
Tiểu dự án 2 văn bản hoá và biên dịch sử thi Tây Nguyên đã được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo đúng tiến độ. Khi thực hiện Tiểu dự án này, Ban điều hành đã huy động nguồn nhân lực ở nhiều cơ quan, nhiều địa phương, đã ký hợp đồng không chỉ với người còn tuổi lao động, mà với cả những người đã nghỉ hưu, đã huy động chất xám của các nhà chuyên môn người Kinh và các nghệ nhân, các trí thức dân tộc. Trong quá trình điều hành, đảm bảo được sự đoàn kết cao và thông cảm lẫn nhau giữa cán bộ ở Trung ương và địa phương. Theo dự toán số kinh phí dành cho Tiểu dự án là: 5.500.000.000đ (Năm tỉ, năm trăm triệu đồng). Chúng tôi vẫn đảm bảo mục tiêu, tiến độ của Tiểu dự án nhưng đã tiết kiệm được kinh phí so với dự toán.
 
Phần thứ ba
Kết quả thực hiện Tiểu Dự án 3
 
I/ Mục tiêu
+ Xây dựng 15 phim tư liệu ghi lại những hình ảnh của các nghệ nhân, các loại hình sinh hoạt diễn xướng sử thi của các dân tộc Ba Na, Ê Đê, Mơ Nông, Ra Glai, Xơ Đăng.
+ Xuất bản 75 tác phẩm sử thi dưới dạng song ngữ có chú thích, chú giải các từ cổ, các tiếng địa phương.
+ Xây dựng phòng bảo quản để lưu giữ lâu dài các tác phẩm sử thi (dưới các hình thức: băng, đĩa, tài liệu chép tay, bản đánh máy, sách in...)
II/ Kết quả thực hiện
1. Hoàn thành 15 bộ phim tư liệu về diễn xướng sử thi của các nghệ nhân tiêu biểu gồm: 5 phim về nghệ nhân hát kể sử thi Ê Đê, 3 phim về nghệ nhân hát kể sử thi Ba Na, 3 phim về nghệ nhân hát kể sử thi Ra Glai, 3 phim hát kể sử thi Mơ Nông, 1 phim về nghệ nhân hát kể sử thi Xơ Đăng.
2. Xuất bản tổng số 75 tác phẩm
Mỗi tác phẩm sử thi được công bố bao gồm các nội dung sau:
+ ảnh chân dung nghệ nhân;
+ Bài giới thiệu của người biên tập văn học nhằm giúp người đọc dễ dàng tiếp nhận tác phẩm;
+ Phần phiên âm tiếng dân tộc;
+ Phần dịch nghĩa tiếng Việt đã được biên tập văn học;
+ Phần chú thích, chú giải các từ cổ, địa danh,...
+ ảnh minh họa về con người, văn hoá tộc người chủ thể của sử thi và việc thực hiện Dự án.
Độ dài của từng tác phẩm sử thi trong một dân tộc và giữa các dân tộc không giống nhau. Có trường hợp một sử thi được in trong một tập (mỗi tập khoảng 1000 trang, khổ 16cm x 24cm). Có trường hợp hai sử thi của một dân tộc in trong một tập. Có trường hợp một sử thi in thành hai tập. ở đầu mỗi tập sách đều có lời nói đầu của Trưởng ban Ban chỉ đạo Dự án và danh sách Ban chỉ đạo, Ban điều hành.
Công việc xuất bản được thực hiện theo Hợp đồng ba bên giữa Viện Nghiên cứu văn hoá, Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Công ty Cổ phần phát hành sách Tp. Hồ Chí Minh (gọi tắt là FAHASA). Sở dĩ chúng tôi chọn nhà in của FAHASA là vì:
+ Đối tác này đảm bảo việc in, đóng, vào bìa, trình bày sách đạt chất lượng và thẩm mĩ cao, giá thành hợp lý.
+ Sau khi in sách, FAHASA gửi ra Hà Nội (cho Viện Nghiên cứu văn hoá) 200 bản. Một phần nhỏ được FAHASA kí hợp đồng phát hành. Số sách còn lại sẽ được vận chuyển đến các tỉnh Tây Nguyên bằng đường ôtô.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đối tác là FAHASA.
Trong quá trình làm việc, đã đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba cơ quan, không có điều gì đáng tiếc xảy ra; thậm chí Dự án còn nợ tiền quản lý phí đối với Nhà xuất bản Khoa học xã hội nhưng Nhà xuất bản Khoa học xã hội vẫn tạo những điều kiện tốt nhất, nhanh nhất cho việc xuất bản.
Cho đến nay đã in xong 75 tác phẩm (thuộc 6 dân tộc) trong 62 tập. Trong số 75 tác phẩm này có 30 tác phẩm của dân tộc Ba Na, 2 tác phẩm của dân tộc Chăm, 10 tác phẩm của dân tộc Ê Đê, 26 tác phẩm của dân tộc Mơ Nông, 3 tác phẩm của dân tộc Ra Glai, 4 tác phẩm của dân tộc Xơ Đăng (có danh mục kèm theo).
Theo kế hoạch, sẽ in 75 tác phẩm trong 40 tập sách với tổng số trang khoảng 40.000 trang. Thực tế hiện nay 75 tác phẩm được in trong 62 tập với số trang là 60.400 trang. Như vậy, kinh phí xuất bản thực tế là gấp rưỡi so với dự toán.
3. Xây dựng hệ thống bảo quản:
+ Lắp đặt 11 tủ chống ẩm để lưu trữ băng ghi âm, máy ảnh, máy quay phim và các thiết bị kỹ thuật khác.
+ Lắp đặt 06 tủ hồ sơ để lưu trữ hồ sơ điều tra, ảnh tư liệu và đĩa CD -Audio các tác phẩm sử thi.
+ Lắp đặt 01 hệ thống báo cháy, chữa cháy tự động (Hệ thống này được Viện Khoa học xã hội Việt Nam trang bị).
III/Đánh giá
Tiểu dự án 3 được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo đúng tiến độ, đảm bảo đủ số lượng phim và số lượng tác phẩm biên tập văn học, số lượng tác phẩm xuất bản. Đối với những sử thi đã được công bố, giới chuyên môn đánh giá khả quan. Số tác phẩm đã in được gửi đến nhiều thư viện, đã có ba học viên cao học sử dụng chúng làm tài liệu viết luận văn thạc sĩ. Hiện nay do số lượng trang in thực tế tăng thêm (20.400 trang) nên xin được cấp kinh phí bổ sung cho Tiểu dự án này (hiện nay chưa có kinh phí trả nhuận bút, trả quản lý phí,...).
 
Phần thứ tư
Đánh giá chung toàn bộ dự án
 
1/ Theo kế hoạch ban đầu, Dự án sẽ thực hiện trong 5 năm, về sau có sự điều chỉnh: Dự án sẽ kết thúc vào năm 2007 (tức là thực hiện trong vòng hơn 6 năm, tính từ tháng 11 năm 2001 là thời gian được cấp kinh phí lần đầu). Đến nay về cơ bản Dự án đã hoàn thành các mục tiêu đã được thực hiện. Lần đầu tiên trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận, việc điều tra sưu tầm sử thi Tây Nguyên được tiến hành một cách quy mô đồng bộ và bài bản. Dự án này cho thấy Tây Nguyên và các vùng phụ cận là vùng đất đã tồn tại và đang lưu giữ một kho tàng sử thi vào loại phong phú, đồ sộ, vào loại hiếm có trên thế giới. Công tác sưu tầm được tiến hành tuy muộn nhưng đã giữ được phần lớn các tài sản văn hoá tinh thần. Trong quá trình thực hiện Dự án đã có 02 nghệ nhân qua đời (nữ nghệ nhân Me Jéch ở Bình Phước, nghệ nhân Điểu Mpiơih ở Đắc Nông), 02 nhà nghiên cứu, sưu tầm qua đời (Thạc sĩ Hứa Đông Hải ở Viện Nghiên cứu văn hoá và ông Nguyễn Thế Sang ở Khánh Hoà). Ông Điểu Kâu (sinh năm 1935) là một trí thức dân tộc Mơ Nông, hiện cư trú ở Đắc Nông. Ông là người duy nhất đảm nhiệm việc phiên âm và biên dịch các sử thi Mơ Nông. Rất tiếc, mới đây đã phát hiện ông lâm bệnh trọng. Giả sử 10 năm nữa, dù với số kinh phí dồi dào hơn, dù có những phương tiện kỹ thuật hiện đại hơn, nếu một dự án tương tự như thế này được bắt đầu thì khó mà nói đến kết quả. Bởi vì đến lúc ấy hầu hết các nghệ nhân đã ra đi.
2/ Thực hiện được Dự án là do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là quyết định sáng suốt của Chính phủ. Thứ hai là sự chỉ đạo đúng đắn của lãnh đạo Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Ban chỉ đạo Dự án. Thứ ba là sự ủng hộ, giúp đỡ của lãnh đạo và đồng bào các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận. Thứ tư là sự nỗ lực vượt bậc của tập thể Viện Nghiên cứu văn hoá và các cộng tác viên ở các Sở Văn hoá - Thông tin (Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Bình Phước, Phú Yên, Ninh Thuận, ...), sự tham gia có hiệu quả của nhiều nhà chuyên môn ở Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Văn học, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
       
Viện trưởng
Viện Nghiên cứu văn hoá
Giám đốc Điều hành Dự án
 
GS. TS. Nguyễn Xuân Kính
Các tin đã đưa ngày: